TIN TỨC MỚI
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh te. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh te. Hiển thị tất cả bài đăng

Xuất siêu, nhập siêu là gì? Chúng có tác động gì đến kinh tế?

    Trong sự phát triển của nền kinh tế có 2 khái niệm khá được quan tâm đó là khái niệm xuất siêu và nhập siêu. Vậy xuất siêu và nhập siêu là gì? Những tác động gì của xuất, nhập siêu tới kinh tế? Xuất siêu hay nhập siêu sẽ có lợi cho nền kinh tế?


    Trong lĩnh vực kinh tế hiện nay, Việt Nam được xem là nước hội nhập mạnh mẽ trong khu vực đông nam á và toàn thế giới. Cũng chính bước ngoặt lớn này đã mang về kết quả xuất siêu và đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế của nước ta.

    Nội dung chi tiết xin mời các bạn cùng tham khảo qua bài viết sau đây:

    Để bắt đầu chúng ta cần biết thêm 1 khái niệm "kim ngạch". Vậy kim ngạch là gì?

    Kim ngạch (xuất/nhập) là tổng giá trị (xuất/nhập) (lượng tiền thu về được) của tất cả những hàng hoá (xuất/nhập) khẩu của nước nhà (hoặc một doanh nghiệp) trong một kỳ nhất định (thường là quý hay năm), tiếp đến qui đổi đồng bộ ra một loại tổ chức tiền tệ nhất định. Khi kim ngạch xuất khẩu càng cao càng minh chứng kinh tế tài chính của doanh nghiệp hay của cả một nước nhà ngày càng phát triển, còn ngược lại, khi kim ngạch xuất khẩu thấp, kim ngạch nhập khẩu cao thì kinh tế tài chính của nước đó càng xưa cũ, chậm cải cách và phát triển.


    I. Khái niệm nhập siêu là gì?

    Nhập siêu là khái niệm dùng để mô tả tình trạng khi cán cân thương mại có giá trị nhỏ hơn 0. Hoặc nói khác, khi kim ngạch nhập khẩu cao hơn kim ngạch xuất khẩu trong một khoảng thời gian nhất định, đó được gọi là nhập siêu. Thường nhập siêu là hiện tượng phổ biến ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng mở.

     

    II. Khái niệm xuất siêu là gì?

    Xuất siêu là khái niệm dùng để mô tả tình trạng khi cán cân thương mại có giá trị lớn hơn 0. Hoặc nói khác, khi kim ngạch xuất khẩu cao hơn kim ngạch nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định, đó là xuất siêu.

    III. Những tác động của xuất siêu, nhập siêu đến kinh tế, xã hội

     

    Xét trên nhiều phương diện, nhập khẩu ở một chừng mực nào đó sẽ có lợi cho nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước trong giai đoạn đang phát triển. Tuy nhiên, nhập siêu quá cao sẽ tác động xấu đến nền kinh tế.

     

    Tích cực đối với nhập siêu:

     

    1. Kinh tế

    Đối với kinh tế, việc nhập khẩu công nghệ, máy móc trang thiết bị cao cấp giúp nâng cao trình độ kỹ thuật, tiến gần trình độ phát triển cao của thế giới, nhờ đó tạo ra các sản phẩm xuất khẩu có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao. Trong điều kiện ngành sản xuất nguyên liệu cao cấp trong nước chưa phát triển thì việc nhập khẩu nguyên liệu giúp cho các nước này thực hiện tốt chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về xuất khẩu. Hàng nhập khẩu trong nhiều trường hợp tạo môi trường cạnh tranh kích thích sản xuất trong nước hoàn thiện và phát triển. Nhập khẩu từ nguồn vốn ODA của các tổ chức tài chính quốc tế giúp cải thiện mau chóng hạ tầng cơ sơ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế.

     

    2. Xã hội

    Đối với xã hội, việc nhập khẩu hàng tiêu dùng, sản phẩm khoa học và văn hóa còn góp phần phát triển nguồn nhân lực và nâng cao mức sống người dân. Nhập khẩu từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp chẳng những góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trương kinh tế mà còn tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống xã hội.

     

    Tiêu cực đối với nhập siêu:

     

    1. Thúc đẩy tư tưởng "sùng ngoại"

    Giới chuyên gia kinh tế cảnh báo những hiểm họa của tình trạng nhập siêu lớn. Chẳng hạn, nhập khẩu tràn lan vượt quá kiểm soát của chính phủ sẽ dẫn tới hiện tượng lãng phí ngoại tệ, tác động xấu đến sản xuất trong nước. Việc nhập khẩu hàng tiêu dùng quá nhiều sẽ dẫn tới xu hướng "sùng ngoại", khiến hàng nội địa khó tiêu thụ hơn.

     

    2. Gia tăng nợ công

    Quan trọng hơn, nhập siêu thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt ngoại tệ, khiến các chính phủ phải gia tăng vay nợ bằng cách phát hành thêm trái phiếu. Trong một thời gian dài, nhập siêu sẽ khiến con số nợ công của một nước ngày càng tăng vì suy cho cùng các nước đều phải dựa vào xuất khẩu để trả nợ và lãi.

     

    3. Nhân tố tạo khủng hoảng

    Xét ở mặt này, nhập siêu có thể gây ra khủng hoảng nợ công như tại Hy Lạp, nước nhập siêu tới 13,5% GDP (năm 2009), dẫn đầu top các nền kinh tế bị nhập siêu tính theo tỷ lệ với GDP. Nước này đã rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ nhất châu Âu kể từ đầu năm 2010 và cho đến nay vẫn chưa cải thiện tình hình, dù đã nhận được các gói ứng cứu từ bên ngoài. Hoặc như trường hợp của Hoa Kỳ, nước có kim ngạch nhập siêu tuyệt đối (tính bằng USD) lớn nhất. Hoa Kỳ hiện cũng lâm vào một cuộc khủng hoảng nợ công, nhưng ở mức độ và sắc thái khác vơi Hy Lạp. Hiện nước này đã chạm trần nợ công và có nguy cơ vỡ nợ tạm thời nếu Chính phủ và Quốc hội không đạt được thỏa thuận nâng trần nợ trước ngày 2-8-2011.

    Ngoài ra, một số nhà chuyên môn tin rằng nhập siêu lớn là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới cuộc Khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 – 1998.

     

    4. Gia tăng thất nghiệp

    Một nghiên cứu của TS. Alec Feinberg, sáng lập viên Citizens for Equal Trade, lại gắn nhập siêu với tỷ lệ thất nghiệp. Dựa trên những dữ liệu từ 25 nước có mức nhập siêu và xuất siêu lớn nhất thế giới (trong giai đoạn 2009-2010), nhóm nghiên cứu của TS. Feinberg cho biết tỷ lệ tác động tới thị trường việc làm của tình trạng nhập siêu dao động từ 60-72%. Những nước nhập siêu cao có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn và ngược lại.

    Feinberg cũng lưu ý 2 trường hợp là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Hoa Kỳ là nước có mức nhập siêu tính theo giá trị USD lớn nhất thế giới, với 633 tỷ USD (năm 2010), lớn hơn giá trị kim ngạch nhập siêu của tất cả các nước nhập siêu trong top 10 (trừ Hoa Kỳ) cộng lại. Hoa Kỳ có tỷ lệ thất nghiệp 9,6% (tại thời điểm thực hiện nghiên cứu). Trong khi đó, Trung Quốc có Thặng dư thương mại tới 296 tỷ USD vào năm 2009, và có tỷ lệ thất nghiệp chỉ 4,3%.

     

    5. Nhấn chìm thị trường chứng khoán

    Trang web chuyên giải thích về đầu tư InvestOpedia cho rằng đối với Thị trường chứng khoán(TTCK), nhập siêu kéo dài có thể gây nên những hậu quả tai hại. Giải thích của InvestOpedia cũng dựa trên 2 tác động chính của tình trạng nhập siêu là gia tăng nợ công và làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Nếu trong một thời gian dài một đất nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn xuất khẩu, họ sẽ lâm vào cảnh nợ nần, trong khi hàng hóa nội địa ngày càng bị hàng ngoại lấn át. Qua thời gian, giới đầu tư sẽ nhận thấy tình trạng suy yếu trong tiêu thụ hàng hóa nội địa, một diễn biến gây tổn hại cho các nhà sản xuất trong nước và cũng làm suy giảm giá trị cổ phiếu của họ. Thời gian càng kéo dài, giới đầu tư càng nhận ra rằng cơ hội đầu tư tốt ở thị trường nội địa càng ít đi, và bắt đầu chuyển hướng sang các thị trường cổ phiếu ở nước khác. Điều đó sẽ làm giảm nhu cầu đối với thị trường cổ phiếu ở trong nước và khiến thị trường ngày càng đi xuống. Thực trạng của Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay có thể rơi vào trường hợp này.

     

    Đối với xuất siêu:

    Hai tháng đầu năm 2016, Việt Nam xuất siêu hơn 865 triệu USD nhưng công lớn này đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    Theo số liệu Bộ Công Thương vừa công bố trong tháng 2-2016, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam thặng dư 100 triệu USD giúp cán cân từ đầu năm đến nay thặng dư (xuất siêu) khoảng 865 triệu USD.

     

    Doanh nghiệp nội vẫn khó

    Trong đó, khu vực doanh nghiệp (DN) trong nước nhập siêu 2,1 tỉ USD và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) kể cả dầu thô xuất siêu tới 2,9 tỉ USD. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng trong ngắn hạn, xuất siêu là tín hiệu mừng bởi tạo thêm việc làm, thuế cho ngân sách nhưng về dài hạn, cứ “xuất hộ” khu vực FDI thì không ổn bởi tỉ lệ nội địa hóa không cải thiện và nền kinh tế thực chất chỉ gia công, lắp ráp.

    Điểm sáng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm là xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản có dấu hiệu phục hồi khi đạt kim ngạch khoảng 2,95 tỉ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Có điều, theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm của cả nước tăng thêm 667 triệu USD so với cùng kỳ nhưng kim ngạch của khu vực FDI không kể dầu thô tăng 806 triệu USD, trong khi khu vực DN trong nước lại giảm 288 triệu USD, phản ánh bức tranh xuất khẩu của DN nội địa vẫn còn nhiều khó khăn. Riêng trong tháng 2, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 10,3 tỉ USD thì riêng khu vực FDI, con số này đã chiếm tới 7,25 tỉ USD (chiếm 70,38%).

    Ở chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa của nhóm hàng cần nhập (nguyên phụ liệu đầu vào của nhiều ngành sản xuất như thủy sản, bắp, đậu tương, bông sơ xợi, nguyên liệu dệt may, da giày…) ước đạt 19,95 tỉ USD, giảm 7,3% so với cùng kỳ, trong khi tốc độ giảm của nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu và nhóm hàng cần hạn chế nhập lại không nhiều, thậm chí tăng so với cùng kỳ.

    Nếu so với con số nhập siêu của Việt Nam năm ngoái hơn 3,54 tỉ USD, mức xuất siêu trên 865 triệu USD trong 2 tháng đầu năm là tín hiệu tích cực. Thặng dư nguồn ngoại tệ khá lớn đã góp phần kéo giảm áp lực lên cầu ngoại tệ và giúp tỉ giá bớt căng thẳng những tháng đầu năm. Dù vậy, nhìn số liệu tính đến ngày 15-2 của Tổng cục Hải quan sẽ thấy xuất siêu của Việt Nam có được do kim ngạch xuất nhập khẩu nhiều mặt hàng giảm mạnh - dấu hiệu phản ánh hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN kém khả quan.

    Hiện nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có cải thiện vượt trội về lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ và thị trường lao động hiệu quả cao. Được nhiều nền kinh tế nước ngoài hướng đến hợp tác để phát triển về lĩnh vực sản xuất. Hơn nữa, khi tham gia các Hiệp định thương mại, nước ta đã được cắt giảm thuế quan với nhiều đối tác.

    Nguồn: tổng hợp

    Những kiến thức kinh tế cơ bản nhất mà bạn cần phải biết

      1. Kinh tế có 2 thành phần chính là Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô

      Kinh tế vi mô là gì? Kinh tế vĩ mô là gì?

      Kinh tế vi mô - vĩ mô là gì?

      Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi, động cơ của người tiêu dùng, giá cả, lợi nhuận, v.v… Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế rộng hơn và những giá trị lớn hơn như lãi suất, GDP và các công cụ khác mà bạn thường thấy trong mục kinh tế của các tờ báo.

      Kinh tế vi mô hữu ích hơn cho các nhà quản trị còn kinh tế vĩ mô có lợi hơn cho các nhà đầu tư. Ngoại trừ các điểm 2 và 3, tôi sẽ lướt qua kinh tế vĩ mô ở các mục khác.

      2. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

      GDP là gì? Cách tính GDP của 1 quốc gia?

      GDP là gì? Cách tính GDP của 1 quốc gia?


      Đây là công cụ cơ bản nhất để đo kích thước của 1 nền kinh tế. Theo khái niệm, GDP sẽ bằng tổng thu nhập của tất cả người dân trong 1 quốc gia hoặc tổng giá trị thị trường của tất cả sản phẩm và dịch vụ được sản xuất trong quốc gia đó.

      Hiện nay, Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới xét theo GDP (khoảng 14 ngàn tỷ USD). Điều đó có nghĩa rằng, mỗi năm có 14 ngàn tỷ USD giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất tại Mỹ.

      3. Tốc độ tăng trưởng

      Tốc độ tăng trưởng của 1 nền kinh tế tính thế nào?

      Tốc độ tăng trưởng của 1 nền kinh tế tính thế nào?

      Sự phát triển của 1 nền kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP. Vì GDP là thước đo thu nhập của 1 quốc gia, nên tốc độ tăng trưởng GDP sẽ cho thấy thu nhập trung bình một người dân tăng lên bao nhiêu mỗi năm.

      4. Luật cung – cầu: nền tảng của kinh tế

      Quy luật cung cầu là gì?

      Quy luật cung cầu là gì?

      Bất cứ khi nào nguồn cung tăng sẽ làm cho giá giảm và cầu tăng sẽ làm giá tăng. Vì thế, khi bạn sản xuất thừa ngũ cốc, giá thực phẩm sẽ giảm và ngược lại. Hãy suy nghĩ một cách trực quan, bạn sẽ thấy quy luật này đúng ở mọi nơi trên thế giới.

      5. Lạm phát

      Lạm phát là gì? Cách tính lạm phát mỗi năm?

      Lạm phát là gì? Cách tính lạm phát mỗi năm?

      Bạn đã biết rằng giá của hầu hết các SP hiện nay đều cao hơn so với thời cha ông chúng ta. Lạm phát (tính theo phần trăm) cho thấy mức độ tăng giá củahàng hoá so với năm trước. Trong nền kinh tế phát triển, lạm phát hàng năm vào khoảng 2% - điều đó có nghĩa rằng giá các món hàng tăng trung bình 2% mỗi năm.

      Vai trò cơ bản của NHTW là quản lý tỉ lệ này và giữ nó ở 1 con số dương thấp. Phía trên là biểu đồ cho thấy mức độ lạm phát của Mỹ trong suốt 100 năm qua.

      6. Lãi suất

      Lãi suất là gì?

      Lãi suất là gì?

      Khi bạn cho ai đó vay tiền, bạn mong đợi sẽ nhận được thêm một khoản tiền đền bù. Phần tiền này gọi là tiền lãi. Lãi suất là 1 số dương phản ánh số tiền bạn sẽ nhận được “thừa ra” so với khoản ban đầu bạn cho vay.

      Hãy theo dõi biểu đồ lãi suất ở trên. Trong ngắn hạn, lãi suất thường được quy định bởi các NHTW. Hiện nay, nó gần tiến về mức 0. Về lâu dài, lãi suất sẽ do thị trường quyết định và phụ thuộc vào tỉ lệ lạm phát và viễn cảnh của nền kinh tế. Những cơ chế NHTW dùng để kiểm soát lãi suất ngắn hạn được gọi là chính sách tiền tệ.

      7. Mối quan hệ Lãi suất – Lạm phát – Tăng trưởng

      Mối liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất, lạm phát, tăng trưởng là gì?

      Mối liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất, lạm phát, tăng trưởng là gì?

      Gần như có 1 mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và tỉ lệ tăng trưởng GDP, ngoài ra lãi suất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ lạm phát. Vì thế, khi bạn gia tăng lãi suất, lạm phát sẽ có xu hướng đi xuống, tuy nhiên đi cùng với nó là kinh tế phát triển chậm lại.

      Do vậy, không có gì khó hiểu khi việc quy định lãi suất luôn khiến các nhà chức trách phải đau đầu. Ở Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) chịu trách nhiệm quy định lãi suất ngắn hạn và đó luôn là một trong những thông tin kinh tế được theo dõi nhiều nhất.

      8. Chính sách tài khóa

      Chính sách tài khóa được hiểu thế nào?

      Chính sách tài khóa được hiểu thế nào?

      Chính phủ có thể kiểm soát nền kinh tế bằng cách điều chỉnh chi tiêu. Nhóm các cơ chế sử dụng ngân sách hình thành nên chính sách tài khóa. Khi chính phủ chi tiêu nhiều, dẫn đến cầu nhiều hơn và giá tăng nhiều hơn. Điều này có nghĩa rằng nền kinh tế tăng trưởng tốt nhưng đồng thời mang theo lạm phát cao và ngược lại.

      Do đó, chính phủ cố gắng chi tiêu nhiều hơn trong giai đoạn tăng trưởng thấp và lạm phát thấp, đồng thời thắt chặt chi tiêu trong thời kì tăng trưởng và lạm phát cao.

      9. Chu kỳ kinh tế

      Chu kỳ kinh tế là gì?

      Chu kỳ kinh tế là gì?

      Nền kinh tế có những thời kì bùng nổ và khủng hoảng với chu kỳ khoảng 7 năm. Khởi đầu chu kỳ sẽ là sự bùng nổ của nền kinh tế, sau đó nó phát triển đến mức cực thịnh, tiếp đến sẽ bước vào suy thoái (thời kì tăng trưởng âm/thất nghiệp gia tăng) và cuối cùng là sang chu kỳ tiếp theo.

      Cách nền kinh tế vận hành?


      Nền kinh tế được tạo nên từ 1 vài bộ phận đơn giản cùng rất nhiều giao dịch đơn giản được lặp đi lặp lại nhiều lần. Các giao dịch được điều khiển bởi bản chất con người, tạo ra 3 bản chất của nền kinh tế: tăng trưởng năng suất, chu kỳ nợ ngắn hạn, chu kỳ nợ dài hạn.

      10. Chi phí cơ hội

      Chi phí cơ hội là gì?

      Chi phí cơ hội là gì?

      Khi thực hiện một hành động gì đó, bạn có thường so sánh lợi ích của hành động ấy so với các hành động khác. Ví dụ, vào tối thứ 6 khi phải làm việc cật lực cho 1 dự án, bạn có thể nghĩ rằng “Trời đất, mình đáng lẽ nên làm việc gì đó khác”. “Việc khác” ấy (trong trường hợp này là tiệc tùng cùng bạn bè) có 1 giá trị cao, và nó chứng tỏ dự án hiện tại của bạn tốt hơn, hấp dẫn hơn.

      Giá trị của hành động mà bạn bỏ lỡ được gọi là “chi phí cơ hội”. Vì thế, nếu bạn bỏ 1 công việc trả lương 120 ngàn đô la/năm để bắt đầu lại, chi phí cơ hội của việc bắt đầu lại là 120 ngàn đô la/năm. Bạn nên chọn những công việc mang lại doanh thu cao hơn những công việc khác mà mình đã từ bỏ.


      Nguồn tham khảo: KIEN THUC KINH TE

       
      Copyright © 2014 Blog tin tức đa dạng Hvdong. Designed by OddThemes