TIN TỨC MỚI

39 PHÍM TẮT DÀNH CHO NGƯỜI DÙNG WINDOWS


(Giúp bạn tiết kiệm 61% thời gian làm việc trên máy tính)
Ctrl + C: Sao chép đối tượng đã chọn
Ctrl + X: Cắt (Cut) đối tượng đã chọn
Ctrl + V: Dán (Paste) đối tượng đã chọn
Ctrl + Z: Quay lại thời điểm trước đó (Undo)
Ctrl + A: Chọn tất cả.
Ctrl + một phím di chuyển (trái/phải/lên/xuống): Chọn nhiều tập tin/thư mục rời rạc.
Ctrl + Shift + một phím di chuyển (trái/phải/lên/xuống): Chọn nhiều tập tin/thư mục liên tục.
Ctrl + Shift + dùng chuột kéo đi: Tạo shortcut cho tập tin/thư mục đã chọn.
Ctrl + phím di chuyển sang phải: Đưa trỏ chuột tới cuối từ đang đứng sau nó.
Ctrl + phím di chuyển sang trái: Đưa trỏ chuột lên ký tự đầu tiên của từ trước nó.
Ctrl + phím di chuyển xuống: Đưa trỏ chuột đến đầu đoạn văn tiếp theo.
Ctrl + phím di chuyển lên: Đưa con trỏ chuột đến đầu đoạn văn trước đó.
Ctrl + Esc: Mở Start Menu, thay thế phím Windows.
Ctrl + Tab: Di chuyển qua lại giữa các thẻ của trình duyệt theo thứ tự từ trái sang phải.
Ctrl + Shift + Tab: Di chuyển qua lại giữa các thẻ của trình duyệt theo thứ tự từ phải sang trái.
Ctrl + F4: Đóng cửa số hiện hành của trong chương trình đang thực thi.
Ctrl + Alt + Tab: Sử dụng các phím mũi tên để chuyển đổi giữa các ứng dụng đang mở.
Ctrl + Shift + Esc: Mở Task Manager
Ctrl + Esc: Mở Start menu
Alt + Enter: Mở cửa sổ Properties của tập tin/thư mục đang chọn.
Alt + F4: Đóng một chương trình.
Alt + Tab: Chuyển đổi qua lại giữa các chương trình đang chạy
Alt + Esc: Chọn có thứ tự một cửa sổ khác đang hoạt động để làm việc.
Alt + nhấn chuột: Di chuyển nhanh đến một phần của văn bảng từ mục lục.
Alt + F8: Hiển thị mật khẩu trên màn hình đăng nhập.
Alt + phím mũi tên trái: Quay lại trang trước.
Alt + phím mũi tên phải: Đi về trang phía sau.
Alt + phím cách: Mở menu shortcut cho cửa sổ hiện hành.
Backspace: Trở lại danh mục trước đó, tương tự Undo.
Shift: Giữ phím này khi vừa cho đĩa vào ổ đĩa quang để không cho tính năng “autorun” của đĩa CD/DVD tự động kích hoạt.
Shift + Delete: Xóa vĩnh viễn tập tin/thư mục mà không cho vào thùng rác.
Shift + F10: Mở menu shortcut cho đối tượng đã chọn
Enter: Xác nhận dữ liệu đã nhập thay cho các nút của chương trình, như OK,...
F1: Mở phần trợ giúp của một phần mềm.
F2: Đổi tên đối tượng đã chọn
F3: Mở tính năng tìm kiếm tập tin/thư mục trong My Computer.
F4: Mở danh sách địa chỉ trong mục Address của My Computer.
F5: Làm tươi các biểu tượng trong cửa sổ hiện hành.
F6: Di chuyển xung quanh các phần tử của màn hình trên một cửa sổ hay trên desktop
F10: Truy cập vào thanh Menu của ứng dụng hiện hành
Tab: Di chuyển giữa các thành phần trên cửa sổ.
Với phím Windows:
Windows: Mở hoặc đóng menu Start
Windows + Break: Mở cửa sổ System Properties.
Windows + D: Ẩn/hiện màn hình desktop.
Windows + M: Thu nhỏ cửa sổ hiện hành xuống thanh taskbar.
Windows + E: Mở File Explorer để xem các ổ đĩa, thư mục.
Windows + F: Tìm kiếm chung.
Ctrl + Windows + F: Tìm kiếm dữ liệu trong My Computer.
Windows + F1: Xem thông tin hướng dẫn của hệ điều hành/
Windows + L: Khóa màn hình máy tính
Windows + R: Mở cửa sổ Run.
Windows + U: Mở Ease of Access Center trong Control Panel.
Windows + A: Mở Action center
Windows + Alt + D: Hiển thị, ẩn ngày giờ trên máy tính.
Windows + I: Mở Settings
Windows + P: Chọn chế độ hiển thị trình bày (khi kết nối với máy chiếu, màn hình ngoài)
____________
(Sưu tầm)

TỔNG QUAN VỀ TRADE MARKETING - KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ ĐỐI TƯỢNG




1. Trade Marketing là gì?

Khi hỏi những bạn sinh viên, người đang đi làm, ta có thể nhận được những câu trả lời như: Trade marketing là những hoạt động khuyến mãi, tặng sản phẩm, giảm giá, hoạt náo tại điểm bán, hội nghị khách hàng, phân phối,... Đó là những câu trả lời đúng, tuy nhiên vẫn chưa đủ.

Trade Marketing là một chuỗi các hoạt động nhằm: tổ chức, xây dựng chiến lược ngành hàng và chiến lược thương hiệu trong hệ thống kênh phân phối. Thông qua sự thấu hiểu người mua hàng (shopper) và khách hàng của công ty (customer) – mà cụ thể là các đối tác phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và các khách hàng trọng điểm, để đạt được các chỉ tiêu về tăng doanh số, thị phần và lợi nhuận không những cho công ty mà còn cho khách hàng.

Nói cách khác, Trade Marketing là hoạt động thương mại hóa chiến lược Marketing, biến các hoạt động Marketing trở thành những hoạt động mang tính chất thương mại. Tức là, bạn đầu tư tiền vào các hoạt động Marketing, thì bạn sẽ thu ngay nguồn tiền về trên thị trường.

2. Khác biệt giữa Trade Marketing và Brand Marketing

Căn bản nhất, Brand Marketing là những hoạt động thường tập trung vào người tiêu dùng (consumers). Ví dụ như: quảng cáo TVC, tổ chức sự kiện, PR, digital,...

Trong khi đó, Trade Marketing lại thực hiện những hoạt động liên quan đến Shoppers (người mua hàng) như khuyến mãi sản phẩm, giảm giá, trưng bày,....

Nói cách khác, Brand Marketing sẽ thực hiện các chiến dịch nhằm chiếm lấy tâm trí người tiêu dùng (Win In Mind), còn Trade Marketing sẽ là những công việc giúp nhãn hàng chiến thắng tại điểm bán (Win In Store).

3. Các đối tượng của Trade Marketing

Để hiểu rõ hơn về Trade Marketing, các bạn cần phải nắm được những khái niệm người tiêu dùng, người mua hàng, khách hàng của công ty. Nếu đối tượng chính của Brand Marketing là Consumers, thì với Trade Marketing chính là Shoppers và các đối tác lớn nhỏ trong hệ thống phân phối (khách hàng - Customer). Hãy xem qua mô hình trong bài viết.

Tương tác giữa công ty và người tiêu dùng là Brand Marketing, công ty và khách hàng được gọi là Customer Marketing (hoạt động thúc đẩy mua hàng, phân phối, khuyến mãi, giảm giá, thi đua bán hàng,...), các hoạt động giữa khách hàng và người tiêu dùng là Shopper Marketing (thúc đẩy người mua hàng trong cửa hiệu như trưng bày, hoạt náo,...).

Như vậy Trade Marketing sẽ đảm đương 2 nhiệm vụ là Consumer Marketing và Shopper Marketing. Và điểm bán POP (point of purchase) là nơi tập trung các hoạt động tổng thể của marketing dẫn dến quyết định mua hàng cuối cùng.

4. Phân biệt người tiêu dùng và người mua hàng

Người tiêu dùng (consumers) là người sử dụng sản phẩm cuối cùng, còn người mua hàng (shoppers) là người đưa ra quyết định tại điểm bán. Tuy nhiên, không hẳn người mua hàng là người sử dụng sản phẩm cuối cùng.

Ví dụ như mẹ mua sữa trong siêu thị cho con, thì mẹ là shopper - người đưa ra quyết định mua hàng, còn con mới là consumer - người sử dụng sản phẩm cuối cùng.

Tâm lý của người mua hàng bên trong và ngoài cửa hiệu rất khác nhau. Trước khi vào điểm bán, họ bị ảnh hưởng bởi các hoạt động truyền thông, định vị thương hiệu. Tuy nhiên khi vào điểm bán, họ có thể thay đổi quyết định vì những hoạt động giảm giá, trưng bày. Và đó chính là vai trò tác động của Trade Marketing.

Bài viết được trích trong series "Passport to Marketing" - được chia sẻ từ những người dẫn đường kinh nghiệm, sẽ là "giấy thông hành" giúp bạn sải bước tự tin vào thế giới Marketing đầy màu sắc, với những hiểu biết nền tảng và định hướng nghề nghiệp rõ ràng về nơi bạn muốn đến.

★ Xem chi tiết tại: https://brvn.net/2Szac3P

10 THÓI QUEN CÓ THỂ GIÚP BẠN HỌC MỌI THỨ NHANH GẤP ĐÔI



1. Luyện kỹ năng đọc nhanh

Đọc nhanh không nghĩa là đọc thoáng qua để rồi quên hết mọi thứ. Nó bao gồm rất nhiều kỹ năng như phân cụm, phân đoạn (đọc theo cụm nhiều từ chứ không đọc từng chữ một), giảm thiểu việc đọc thành tiếng trong đầu (sẽ làm cản trở tốc độ đọc của bạn), khả năng đọc lướt lấy thông tin cũng như khả năng sử dụng một công cụ (như bút) để dẫn ánh mắt qua các đoạn bạn đọc.

Có rất nhiều phần mềm hỗ trợ đọc nhanh, trong đó có “Spreeder” (miễn phí) cho phép bạn tha hồ tùy chọn tốc độ đọc muốn luyện tập.


2. Kiểm soát môi trường học

Luôn có một số khoảng thời gian trong ngày bạn học gì cũng thấm nhưng cũng có những khoảng thời gian bạn ngồi mãi cũng chẳng ngấm được gì?

Cơ thể mỗi người đều có nhịp sinh học riêng, do đó những khoảng thời gian đạt đến đỉnh điểm năng suất cũng khác nhau.

Hãy chú ý khung giờ bạn có thể làm việc hiệu quả nhất (có thể là sáng sớm hay nửa đêm) để sắp xếp thời gian học phù hợp.

Lo lắng hay stress sẽ làm giảm khả năng sáng tạo và linh hoạt của bạn. Chính vì vậy, hãy đặt bản thân vào một môi trường dễ chịu, trong lành và thoải mái trước khi bắt tay vào học.

Một số nghiên cứu cũng từng chứng minh rằng nhiệt độ phòng học cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng học của chúng ta. Nhiệt độ phòng lý tưởng được khuyên để học là ở mức 22-27 độ C.


3. Ghi chép

Nghiên cứu chỉ ra rằng ghi chép bằng bàn phím máy tính không giúp sinh viên nhớ được nhiều thông tin bằng việc viết tay.

Viết tay thường chậm hơn gõ máy nhưng nó khiến chúng ta phải đưa ra đánh giá một cách nhanh chóng về các thông tin vừa được nghe. Ngược lại, khi gõ máy, chúng ta ít khi nghĩ về những điều này mà thường chỉ copy lại chúng một cách máy móc.

Như vậy, để tăng tốc độ học, bạn hãy cố gắng viết tay những điều quan trọng ra giấy.

Nếu trong trường hợp cần ghi chú bằng máy tính hoặc điện thoại, “Evernote” là một sự lựa chọn tốt. Nó không chỉ cho phép bạn đồng bộ các nội dung gõ máy lên tất cả các thiết bị và nền tảng mà còn có thể scan các bản viết tay để lưu trữ lâu dài.


4. Kết hợp nhiều phương pháp học khác nhau

Kết hợp đa dạng nhiều phương pháp học (như hình ảnh, đọc, viết và cảm xúc/vận động – hay còn gọi là mô hình VARK) nhau có thể thúc đẩy hứng thú của người học.


+ Nếu bạn là người học thiên về thị giác, hãy vẽ thật nhiều hình ảnh, sơ đồ tư duy hay PowerPoint để kích thích bản thân.

+ Nếu bạn học tốt nhất khi được lắng nghe, hãy lên mạng tìm các podcast (tương tự như blog, bản tin nhưng ở dạng audio), các bài phỏng vấn hay các audiobook (bạn cũng có thể tìm được chúng qua các ứng dụng như Podcasts trên iOS hay Stitcher trên Android) về nghiền.

+ Nếu bạn thích học kiểu tiếp xúc, vận động trực tiếp thì còn chờ gì mà không nhúng tay làm thứ gì đó mới học (hoặc đôi khi là tìm hiểu những thứ liên quan)?

Một khi đã hiểu rõ phương thức có thể khiến mình học tốt nhất, bạn có thể tăng tốc độ học của bản thân bằng cách áp dụng chúng nhiều hơn.

Thế nhưng tốt nhất là hãy kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp lại với nhau.

Chẳng hạn nếu bạn đang học kỹ năng code qua một bài viết, hãy đọc to nó ra và tưởng tượng trong đầu sơ bộ cách bạn sẽ làm nó ra sao rồi áp dụng ngay vào xây dựng website/ứng dụng của chính mình.


5. Tạo các hình ảnh liên tưởng trong đầu

Bạn có thể rút ngắn thời gian học bằng cách tạo ra những hình ảnh liên tưởng những thứ mới học đến những thứ bạn đã biết. Những kỹ thuật này bao gồm cả việc sử dụng từ viết tắt, từ đồng âm hay những sự vật liên quan có thể giúp có bạn nhớ được các thông tin đang học. Liên tưởng những gì đang cày với những thứ hài hước cũng là thủ thuật không tồi chút nào.


6. Thường xuyên luyện tập não bộ

Não bộ của bạn cũng như cơ thể thôi – luyện tập nhiều mới khỏe và hiệu quả.

Hãy học những thứ mới, thậm chí cả những thứ từng rất xa lạ với bạn, đặt ra những thách thức mới cho chính mình hay thậm chí là chơi những game trí tuệ như Elevate, Peak hay Lumosity (đều có sẵn trên iOS và Android) để nâng cao khả năng tập trung, ghi nhớ hay tốc độ tư duy.
Càng luyện tập nhiều, não bộ của bạn sẽ càng tiếp thu nhanh hơn.


7. Nghe nhạc kích thích trạng thái alpha trong não

Con người có 4 loại sóng não là alpha, beta, theta và delta. Trong số này, trạng thái alpha (thường dao động trong khoảng 8-13 Hz) chính là lúc sự tập trung và khả năng học tập của chúng ta dễ đạt đến đỉnh điểm nhất.

Điều tuyệt vời là bạn có thể giúp não bộ đi vào trạng thái alpha bằng cách lắng nghe những bản nhạc có beat rơi vào khoảng 8-13 Hz (chẳng hạn như nhạc baroque – thể loại nhạc cổ điển của các nhà soạn nhạc như Bach, Vivaldi,...) khi học. Cố gắng tránh xa nhạc có lời bởi chúng có thể khiến bạn mất tập trung.


8. Chuyển cách học sau mỗi 6 tiếng

Luyện tập có chủ đích là khi bạn tập trung hết sức vào cải thiện một kỹ năng nào đó và sẵn sàng vượt thoát khỏi “vùng an toàn” thông thường của mình. Đây cũng là thứ khiến nhiều vận động viên và nhạc công nâng cao trình độ của mình một cách nhanh chóng hơn những người khác rất nhiều.
Nhiều nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng bằng cách thay đổi cách luyện tập ít nhiều (chẳng hạn như tăng thêm áp lực về thời gian, độ khó,…) bạn có thể tăng tốc độ học của mình rất nhiều. Lý do là bởi thay đổi cách luyện tập cũ có thể khiến não của bạn củng cố lại những gì đã biết. Thời gian lý tưởng để bạn thay đổi phương pháp rèn luyện là sau mỗi 6 tiếng luyện tập một phương pháp nào đó.


9. Trải nghiệm thực tế

Không gì có thể đánh bật lại được việc bắt tay trực tiếp làm thứ gì đó. Kiến thức sách vở chỉ có thể có giá trị khi được ứng dụng vào thực tế. Ví dụ việc bạn có thể đọc rất nhiều sách về đầu tư chứng khoán nhưng chỉ đến khi bạn chính thức bắt tay mua những cổ phiếu đầu tiên bằng tiền của mình, bạn mới có thể hiểu rõ tất cả quá trình này đòi hỏi những gì.

Một phương pháp khác là khiến bản thân mình đắm chìm trong trải nghiệm học. Ví dụ nếu bạn đang học tiếng Tây Ban Nha thì hãy dành vài tháng sống ở Mexico, cố gắng chỉ dùng tiếng Tây Ban Nha trong giao tiếp hàng ngày hay nói chuyện thật nhiều với người nói tiếng Tây Ban Nha ở nơi bạn sống. Chắc chắn trong vài tháng này bạn sẽ học được nhiều hơn cả vài năm ngồi cày ở nhà.


10. Dạy lại người khác những gì bạn học được

Khi dạy lại người khác những gì bạn đang học, não bạn có khả năng lưu giữ lại tới 90% những gì bạn vừa tiếp thu, đặc biệt là khi bạn truyền thụ lại cho người khác ngay sau khi tự học.
Chia sẻ kiến thức với người khác không chỉ giúp họ học được những thứ mới mà chính xác là bạn cũng đang tự giúp mình ngấm mọi thứ nhanh hơn bởi hoạt động này khiến não phải hồi tưởng, hệ thống lại và tìm cách diễn đạt trôi chảy mọi thứ vừa được học.

Trên đây là những gợi ý hữu ích giúp bạn đẩy nhanh tiến độ học – kỹ năng quan trọng trong kỷ nguyên thông tin nhiều đến chóng mặt hiện nay. Hãy thử áp dụng và theo dõi xem khả năng học của bản thân có thể được cải thiện đến mức nào.

_______________
NgocMiz | Trí Thức Trẻ

RỬA TIỀN là gì? Cách thức RỬA TIỀN?




1. Rửa tiền là gì?

Lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ vào năm 1973 trong vụ bê bối tài chính Watergate nổi tiếng nước Mỹ, nhưng phải đợi 5 năm sau đó thuật ngữ "rửa tiền" mới chính thức được sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án Mỹ. Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong những thập kỉ gần đây bởi tính phổ biến và mức độ ảnh hưởng của chúng. Tổ chức chống rửa tiền quốc tế (Finance Action Task Force) đã định nghĩa hoạt động rửa tiền là:

+ Việc giúp đỡ đối tượng phạm pháp lẩn tránh sự trừng phạt của pháp luật;
+ Việc cố ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền sở hữu tài sản phạm pháp;
+ Việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp.

Như vậy hiểu một cách khái quát thì rửa tiền là toàn bộ các hoạt động được tiến hành một cách cố ý nhằm hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm.

2. Nguồn gốc của tiền "bẩn"?

Nguồn gốc của tiền bẩn rất đa dạng, tuy nhiên chúng cùng có chung một đặc điểm là các hoạt động phạm pháp: buôn lậu, tham ô, lừa đảo...Hoạt động rửa tiền, bề ngoài có vẻ như vô hại nhưng kì thực là loại hoạt động có tổ chức và vô cùng nguy hiểm. Rửa tiền vừa là công cụ vừa là động lực của các tổ chức tội phạm. Khi tiền bẩn được “đem rửa” thì có nghĩa là trước đó đã xảy ra các hoạt động phạm pháp. Tiền có rửa được thì các băng nhóm tội phạm mới tồn tại được và càng lao vào phạm tội để kiếm tiền bất hợp pháp. Rửa tiền là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong những hoạt động phạm pháp nhằm đem lại những tài khoản kếch xù.

3. Tiền được tẩy rửa như thế nào?

Các thủ đoạn tẩy rửa tiền bẩn ngày càng đa dạng, tinh vi và có tổ chức hơn nhằm "qua mặt" các cơ quan chức năng. Thông thường, tiền được tẩy rửa qua ba bước như sau:

- Nhập tiền bẩn vào hệ thống kinh tế tài chính

Mục đích của bước này là biến đổi hình thái ban đầu của các khoản thu nhập phạm pháp và tách chúng khỏi tổ chức tội phạm nhằm tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng. Một số thủ đoạn phổ biến là chia nhỏ khoản tiền bất chính và gửi vào các ngân hàng nhiều lần để số lượng mỗi lần không đến mức phải khai báo, mua các công cụ tiền tệ hay hàng hóa xa xỉ đắt tiền, chuyển lậu tiền ra nước ngoài, ...

- Quay vòng tiền

Trong giai đoạn này, những kẻ rửa tiền sử dụng tiền bẩn để thực hiện càng nhiều giao dịch tài chính càng tốt, đặc biệt là các giao dịch xuyên quốc gia, nhằm tạo ra một mạng lưới giao dịch chằng chịt, phức tạp và khó lần dấu vết. Tiền có thể được chuyển đổi thành chứng khoán, séc du lịch hoặc qua các ngân hàng khác nhau.

- Hội nhập tiền đã rửa vào hệ thống kinh tế tài chính

Dù tiền bẩn có được quay vòng qua bao nhiêu giao dịch thì đích đến cuối cùng vẫn là tổ chức tội phạm ban đầu. Một số thủ đoạn tiêu biểu là làm sai lệch hóa đơn trong giao dịch xuất nhập khẩu, chuyển tiền cho một ngân hàng hợp pháp thông qua một ngân hàng trá hình hay công ty ma ở nước ngoài... Sau đó những kẻ rửa tiền sẽ dùng chúng để đầu tư vào các hoạt động kinh tế hợp pháp.

Yêu cầu cơ bản để việc rửa tiền được thành công là phải khéo léo xóa được mọi dấu vết giấy tờ giao dịch. Tránh khai báo hải quan, xâm nhập, cài người vào hệ thống ngân hàng, trì hoãn cung cấp chứng từ là những thủ đoạn phổ biến giúp bọn tội phạm đạt được mục đích này.

4. Tác động của rửa tiền

Loại hình tội phạm này có ảnh hưởng tiêu cực bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng... và từ lâu đã vươn những chiếc vòi bạch tuộc của chúng ra ngoài biên giới các quốc gia. Trong phạm vi bài viết này chỉ xin đề cập đến ảnh hưởng của rửa tiền đến nền kinh tế vĩ mô:

- Sự lưu chuyển các luồng tiền trong thế giới ngầm gây ra những đột biến trong cầu tiền tệ và bất ổn định lãi suất và tỷ giá hối đoái.
- Hoạt động kinh tế ngầm tác động xấu đến hướng đầu tư, chuyển từ các khoản đầu tư cẩn trọng sang đầu tư rủi ro cao làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Hoạt động rửa tiền làm giảm tính hiệu quả của các công cụ tiền tệ của chính phủ, kích thích các hành vi tội phạm kinh tế như trốn thuế, thâm ô, mua bán nội gián, gian lận thương mại, tăng tính bất ổn của nền kinh tế.
- Các giao dịch ngầm làm suy giảm hiệu quả kinh tế của các giao dịch hợp pháp, gây mất lòng tin đối với thị trường.
- Hệ thống ngân hàng tài chính bị suy yếu, thậm chí có thể bị thao túng bởi các băng nhóm tội phạm.
- Các con số thống kê bị bóp méo, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách và giảm hiệu quả điều tiết của chính phủ.

>>>Bằng những thủ đoạn tinh vi, các băng đảng tội phạm tìm cách tạo một "lý lịch sạch sẽ" cho những đồng tiền bất chính của mình. Những hoạt động này đã gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế vĩ mô nói chung và lĩnh vực tài chính nói riêng.

Phân biệt các loại THUẾ



1 - Thuế môn bài: Hàng năm Nhà nước tiến hành thu thuế môn bài vào đầu năm nhằm mục đích nắm và thống kê các hộ kinh doanh cá thể, các DN, công ty tư nhân, Hợp tác xã, các tổ chức làm kinh tế khác. Thuế môn bài được ghi nhận vào chi phí Quản lý DN.

2 - Thuế giá trị gia tăng: là 1 loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng

3 - Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Là 1 loại thuế gián thu tính trên giá bán chưa có thuế tieu thu đặc biệt đối với một số mặt hàng nhất định mà doanh nghiệp sản xuất hoặc thu trên giá nhập khẩu và thuề nhập khẩu đối với 1 số mặt hàng nhập khẩu. Đối tượng chịu thuế : kinh doanh dịch vụ, 1 số sản phẩm và 1 số mặt hàng nhập khẩu theo qui định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt. Đối tượng nộp thuế : đối tượng kinh doanh dịch vụ, sản phẩm, hàng hoá chịu thuế TTĐB. Mối mặt hàng chịu thuế TTĐB chỉ chịu thuế 1 lần, đối với những mặt hàng nhập khẩu, khi nhập khẩu đã nộp thuế TTĐB thì khi bán ra không phải nộp thuế TTĐB nữa.

4 - Thuế Xuất nhập khẩu (XNK): Là loại thuế trực thu, tính trực tiếp trên trị giá các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu. Đối tượng chịu thuế là các hàng hoá XNK của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước XNK qua biên giới Việt Nam.Đối tượng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân XNK các hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá chịu thuế XNK.

5 - Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hợp đồng sản xuất kinh doanh cuối cùng của DN.Đối tượng nộp thuế tất cả các tổ chức, cá nhân sxkd hàng hoá dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế.

6 - Thuế thu nhập cá nhân: Là thuế trực thu, thu trên thu nhập của những người có thu nhập cao.Đối tượng nộp thuế là công dân Việt Nam ở trong nước hoặc nước ngoài có thu nhập cao; người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam.

7 - Thuế tài nguyên: Là loại thuế trực thu tính trên việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước qui định. Đối tượng chịu thuế là các loại khoáng sản kim loại, các loại than mỏ, than bùn, dầu khí, khí đốt, khoáng sản tự nhiên, thủy sảntự nhiên và các loại tài nguyên khác như VLXD tự nhiên. Đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên phục vụ cho hợp đồng sản xuất kinh doanh. Thuế nhà đất, tiền thuê đất là tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình đều phải nộp thuế nhà, đất. Tất cả các tổ chức, cá nhân thuê quyền sử dụng đất của Nhà nước đều phải nộp tiền thuê đất theo qui định. Căn cứ xác định thuế theo khung giá qui định của Nhà nước.

8 - Thuế trước bạ: là mọi trường hợp chuyển dịch về quyền sở hữu hoặc sử dụng về nhà đất, phương tiện vận tải,… đều phải nộp thuế trước bạ. Thuế trước bạ phải nộp khi chuyển dịch về quyền sở hữu tài sản nào được ghi tăng nguyên giá tài sản đó.

ĐIỂM MÙ TƯ DUY & NHỮNG HỆ LỤY


Nếu bạn lái xe hơi thì bạn biết khi lái xe dù có ba kiếng chiếu hậu, hai bên ngoài và một bên trong nhưng có hai góc trái và phải phía sau của xe bạn không thể nào thấy được qua các kiếng đó và đó thường gọi là hai điểm mù. Phần nhiều tai nạn xe hơi liên quan đến hai điểm mù này.
Lý trí giúp chúng ta nhận thức và đưa ra quyết định hành động trước những sự kiện xảy ra trong cuộc sống có những điểm mù mà tôi gọi là điểm mù tư duy. Chúng ta ai cũng có những điểm mù này ở những mức độ khác nhau.
Bạn có bao giờ để ý là trong cuộc sống minh thường lập đi lập lại một số lầm lỗi khá giống nhau không? Thí dụ: Nếu bạn từ bỏ công việc nhiều lần vì lý do khá giống nhau. Bạn cãi vã với người yêu thì cũng thường trên vài vấn đề lập lại. Bạn nổi giận mất kiểm soát khi gặp những vấn đề khá giống nhau. Bạn thường bị gạt trong những trường hợp khá giống nhau. Những người yêu mà bạn chia tay thường cũng vì những lý do khá giống nhau. Bạn có thể thường rất hào hứng và tỏ vẻ quyết tâm với dự án mới trong cuộc sống nhưng lại thường không hoàn tất chúng vì những lý do khá giống nhau. Tại sao vậy?
Trong tâm lý học hành vi thì tất cả những gì về con người của bạn (tính cách, hành vi, tư duy, …) có thể chia ra bốn góc với cái tên là Johari Window: 

1. Những gì về con người của bạn mà bạn biết và những người xung quanh cũng biết (Góc mở hay phần nổi)
2. Những điều về bạn mà chỉ có bạn biết nhưng lại muốn che giấu không cho ai khác biết (Góc khuất)
3. Những điều về bạn mà những người chung quanh đều biết nhưng bạn thì lại không có ý thức gì về nó (Góc mù)
4. Những điều về bạn mà cả bạn và người xung quanh đều không biết (Góc ẩn và đây cũng là góc tiềm năng mà bạn chưa khám phá).
Trong cuộc sống bạn muốn hướng đến việc mở rộng góc mở và ngày càng làm nhỏ đi góc khuất, góc mù và góc ẩn. Lúc ấy bạn có thể sống thật với con người của mình và quan hệ với mọi người xung quanh được thân thiết hơn.
Góc khuất những cảm xúc, suy nghĩ, thiên vị, khao khát và kể cả những sự kiện xảy ra với bạn trong quá khứ mà bạn muốn dấu kín vì sợ nếu người ngoài biết có thể sẽ có những đánh giá không đúng về bạn hay sẽ chối bỏ bạn, v.v. Nếu góc khuất lớn sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng những mối quan hệ thân thiết trong cuộc sống. Tuy thế nó không nguy hại đến phát triển sự nghiệp bằng góc mù vì bạn ý thức được những gì trong góc khuất.
Góc mù bao gồm những gì về bạn mà bạn không ý thức được trong khi ấy thì ai cũng thấy cả!
Thế góc mù từ đâu ra?
Theo tâm lý học thì tâm thức (mind) của con người có hai phần: ý thức và vô thức. Hai phần này như một tảng băng trôi trên đại Dương với phần ý thức là phần nổi nhỏ và phần vô thức lớn hơn nhiều là phần chìm. Điểm mù được hình thành từ những kiến thức, kinh nghiệm, trải nghiệm kể cả cảm xúc của cá nhân khi đối diện với các vấn đề trong cuộc sống dần trở thành thói quen hay định kiến trong vô thức. Thí dụ: Mỗi sáng bạn lái xe đi làm và bạn có kinh nghiệm trong những tuyến đường (A, B, C, D,…) có thể đến công ty thì tuyến A ít kẹt xe nhất và bạn đã thử nghiệm khá nhiều lần. Dần dần bạn tự động lái xe đi làm trên tuyến A mà bạn hoàn toàn không có một nhận thức gì về việc đó. Nó giống như cách chúng ta dạy cho robots có trí tuệ nhân tạo bằng cách phân tích những dữ liệu thông tin lớn và tìm ra những nguyên tắc chung rồi đưa vào bộ nhớ để xử lý những trường hợp tương tự sau này.
Đa số các điểm mù dựa vào những giả định tích lũy từ kinh nghiệm và trải nghiệm trong quá khứ.
Thí dụ: Bạn tìm thấy nguyên tắc gì trong dãy số này: 1, 3, 5
Trong các dãy số sau thì (các) dãy số nào thuộc trong nhóm ấy:

a. 5, 7, 9
b. 11, 13, 15
c. 4, 6, 8
d. 3, 8, 25

Đa số các bạn sẽ chọn a) và b) dựa theo giả định – dãy số lẻ liền kề.
Một vài bạn có thể chọn a), b) và c) dựa theo giả định – dãy số liền kề cách nhau 2.
Thế có ai bảo tất cả đều trong cùng một nhóm không? Nếu có thì nguyên tắc của nó là gì? Và làm sao bạn xác định nguyên tắc nào là đúng????? (lời giải ở cuối bài)
Điều đáng nói đó là chỉ 5% của hoạt động não bộ (quyết định, suy nghĩ, cảm xúc, v.v.) con người là có ý thức trong khi đó 95% hoạt động não bộ còn lại là vô thức. Đây là kết quả sau nhiều nghiên cứu khoa học. Nói một cách khác con người 95% hoạt động một cách vô thức, tự lái và chỉ 5% có nhận thức! Do đó tất cả chúng ta ai cũng có góc mù, lớn hay nhỏ tùy vào nhận thức của từng người.

Những điểm mù này có thể phân loại như sau để bạn dễ nhận dạng.

1. Mù kiến thức: Con người thường đánh giá quá cao vào kiến thức và khả năng của mình (Dunning-Kruger effect). Kiến thức hay khả năng càng cao thì điểm mù này càng lớn. Nói một cách khác càng thành công thì nghĩ rằng ‘mình biết hết’ hay ‘làm được hết’. Nguy cơ có thể xảy ra khi người ấy đem kiến thức và kinh nghiệm ở một khía cạnh này dùng vào khía cạnh khác.
2. Mù tin tưởng: Con người thường ‘nghe những gì muốn nghe, thấy những gì muốn thấy, và hiểu những gì muốn hiểu’. Nói một cách khác não bộ chúng ta chọn lọc thông tin để xác minh những gì ta muốn thấy, nghe, và tin tưởng. Những thông tin đối chọi hay không phù hợp với suy nghĩ hay tin tưởng của chúng ta sẽ bị loại bỏ. Do đó sự thật đối với một người có thể khác với sự thật đối với người khác cho dù cùng một sự kiện. Nếu cha mẹ trong đầu nghĩ rằng đứa con cứng đầu khó dạy thì thường nhìn thấy các vấn đề ương ngạnh của con mà không thấy những khía cạnh ngoan của trẻ.
3. Mù cảm xúc: Cảm xúc làm mờ đi nhận thức của bạn. Tuy chưa tiếp xúc trực tiếp nhưng qua cái cách của người sếp mới bạn không thích người ấy. Thế là bạn sẽ tập trung đi tìm thông tin minh chứng cho cảm xúc của bạn là đúng và từ đó mất đi cơ hội hiểu người ấy ở những góc độ khác và chắc chắn bạn sẽ không học được gì từ người sếp mới! Cũng như khi bạn đem bạn trai về giới thiệu với cha mẹ nhưng khi thấy cái hình xâm trên tay cậu ta là cha mẹ đã không ưa rồi và từ đó không thèm bỏ thời gian tìm hiểu hay muốn biết về cậu ấy. Chính vì điểm mù cảm xúc này mà chúng ta thường chọn bạn có tính cách và tư duy giống chúng ta. Nhưng nếu chọn người cộng sự thì điều này sẽ đem lại nhiều nguy cơ cho tổ chức.
4. Mù suy nghĩ: Suy nghĩ của bạn không có vấn đề gì cả! Vấn đề chỉ xảy ra khi bạn đánh giá hay nhìn nhận vấn đề từ suy nghĩ của mình. Tâm lý chúng ta đều cho rằng suy nghĩ của mình là đúng và do đó khi ai đó nêu lên ý kiến trái chiều thì chúng ta thường tìm cách biện hộ cho suy nghĩ của mình và tìm cách chứng minh suy nghĩ kia là sai. Chính điều ấy làm mờ đi khả năng suy nghĩ đa chiều.

Làm sao thu nhỏ góc mù tư duy và hạn chế các hệ lụy?

1. Trước hết nhận thức rằng bản thân mình có điểm mù tư duy do 95% thời gian não bộ của mình hoạt động một cách vô thức. Hãy tập lấy một hoạt động trong vô thức như là hơi thở của bạn và thỉnh thoảng làm nó trở thành hoạt động ý thức. Để ý hơi thở của bạn: hít vào – thở ra – hít vào – thở ra.
2. Tập bỏ dần quan niệm đúng – sai, thành công – thất bại, phải – quấy, tốt – xấu. Đó chính là những sàn lọc hình thành các điểm mù tư duy. Nhiều nơi ở Trung Đông có quan niệm đàn bà không nên lái xe hơi và bạn biết đấy quan niệm ấy ở xã hội Việt Nam là không đúng. Và ở Việt Nam quan niệm dạy con ‘Thương cho roi cho vọt’ thì lại là phạm pháp ở 65 nước trên thế giới trong đó có nước Mỹ.
3. Tập kiểm soát cái ‘Tôi’ và hỏi bạn bè/đồng nghiệp phản hồi hay nhận xét về mình. Nếu bạn chiêm nghiệm trong cuộc sống của mình thì sẽ thấy đa phần các hối tiếc đều từ cái ‘Tôi’ của mình gây ra. Do đó nếu bạn kiểm soát được cái ‘Tôi’ bạn kiểm soát được cảm xúc của mình. Khi ấy bạn dễ dàng nhận được phản hồi hay nhận xét tích cực giúp bạn nhìn thấy điểm mù của mình. Xã hội ngày nay trí tuệ cảm xúc ngày càng quan trọng.
Bài sau sẽ nói về điểm mù tư duy trong lãnh đạo. Nếu bạn thích bài này thì xin chia sẻ rộng rãi nhé.
Trương Nguyện Thành
(3-9-2019)

Lời giải: Nếu nguyên tắc là dãy số tăng dần thì tất cả các dãy số trên đều nằm trong một nhóm. Khi bạn nhìn thấy dãy số thì hình thành giả định và từ đó quên đi nguyên tắc thật sự có thể khác với giả định của mình.

Theo fb: Thanh N. Truong

9 kinh nghiệm khi làm startup




Tôi đã đi qua những con đường quanh co, leo lên khỏi những miệng hố, tóc cũng đã rụng đi rất nhiều trên con đường tự thân lập nghiệp. Bao nhiêu đêm tôi trăn trở mất ngủ, trong đầu toàn là việc phát triển công ty. Sau cùng tổng kết được 9 kinh nghiệm khi làm startup, hi vọng có thể giúp ích cho những bạn sắp hoặc đang khởi nghiệp.

1. Công thức tìm kiếm nhân viên giỏi

Mỗi người đều là duy nhất và có tài năng riêng của mình. Nhưng tài năng cũng có hạn chế, đương nhiên họ cũng sẽ có một điểm yếu tương ứng. Những thiên tài công nghệ có thể rất điêu luyện trong lĩnh vực chuyên môn của mình, nhưng trong cuộc sống họ lại ngô nghê về giao tiếp, xử lí các mối quan hệ một cách vụng về.

Khi tuyển dụng nhân viên, mỗi chức vụ sẽ có những yêu cầu khác nhau, tài năng cần để vận dụng vào cũng không giống nhau. Đối với công ty khởi nghiệp mà nói, việc khó nhằn nhất là tuyển dụng.

Tuyển được rất nhiều người nhưng ra đi cũng không hề ít, việc tìm đúng người mới có thể giúp giảm chi phí lao động của công ty. Vì vậy, trong buổi phỏng vấn bạn nên tìm hiểu thêm cách nhìn của người ứng tuyển về chức vụ. Nên chọn những người không những giỏi về mặt đó mà còn sở hữu niềm hứng thú. Bởi vì nỗ lực có thể quyết định giới hạn thấp nhất, trong khi tài năng và sự hứng thú có thể quyết định giới hạn cao nhất.

"Tài năng" là tấm thẻ đảm bảo cho khả năng, còn "hứng thú" là động lực để tài năng được phát huy đến mức cao nhất. Tài năng + Hứng thú + Nỗ lực = Nhân viên giỏi.

2. Ra sức trọng dụng người trẻ

Nhân viên quản lý của một công ty tuyệt đối không được vượt quá 20%, còn lại nên là những tài năng thực hiện những nhiệm vụ, công việc nhất định.

Nhà thiết kế của công ty tôi khi làm việc vô cùng tập trung, "nữ thần váy ngắn" đi qua cũng không rung động, trong mắt chỉ có bản vẽ. Nhiệm vụ công việc rất nhiều nhưng anh vẫn hoàn thành đủ "chất" và "lượng", đây chính là mẫu nhân tài tràn đầy tinh thần chiến đấu khi thực thi nhiệm vụ điển hình.

Chỉ 20% nhân viên từng trải và có kinh nghiệm phong phú làm việc trong công ty, 80% còn lại không cần đến kinh nghiệm mà cần đến tinh thần thực thi mạnh mẽ.

Trong công ty của tôi, những sinh viên tốt nghiệp của bộ phận tiếp thị đã thể hiện rất xuất sắc, khoảng 20% ​​nhân tài thi hành nhiệm vụ thu về lợi nhuận cao mỗi tháng.

Thực tế đã chứng minh rằng so với những nhân viên già hôm nay con cái bị bệnh, ngày mai về quê thăm người thân tại nơi làm việc, thì người trẻ có sự năng nổ và năng lực thi hành nhiều hơn.

Các doanh nghiệp nên ra sức trọng dụng người trẻ và tạo nhiều cơ hội hơn cho họ. Bởi họ tràn đầy ý chí chiến đấu và dám thử những điều mới mẻ.

Đồng thời tính năng động của nhóm sẽ quyết định bầu không khí chiến đấu. Một công ty cần có những đội ngũ tinh nhuệ, sao cho ra trận giết giặc thì xông pha mạnh mẽ không thể chống đỡ.

Có người ngoài 30 đang tìm kiếm một công việc với lương tháng bèo bọt. Có người đầu 20 trong một năm mức lương từ tầm trung lên đến cao ngất. Đây là sự khác biệt trong tinh thần chiến đấu.

3. Nên trọng dụng nhân viên có tính kỉ luật

Trong số nhân viên, những người có tính kỉ luật tuyệt đối xứng đáng được đề bạt và trọng dụng. Một người biết tự kỉ luật có yêu cầu cao đối với bản thân nên trong công việc họ cũng sẽ làm tốt hơn.

Năm ngoái có hai nhân viên vào công ty cùng một lúc, một người đạt thành tích công việc cao nhất và một người làm mãi không đạt tiêu chuẩn.

Một người mỗi ngày đều đến công ty sớm nửa tiếng và đi vào trạng thái làm việc. Việc hôm nay thì hôm nay hoàn thành, sau khi tan ca sẽ rèn luyện thể thao vào một thời gian cố định. Người kia mỗi ngày đi làm trong vội vã, đến vừa kịp giờ, chuyện công việc càng kéo càng dài, gặp phải vài chuyện không vui thì không còn tâm trạng làm việc nữa.

"Những người không biết tự kỉ luật chính là nô lệ của tâm trạng, ham muốn, và tình cảm."

Hiện giờ hai người họ, người là quản lý một dự án nhóm 10 thành viên, người thì vẫn đang làm việc vặt. Thành công của bạn phụ thuộc vào thái độ của bạn.

Những người có tính kỉ luật để lí trí quyết định hành động hơn là cảm xúc. Họ có thể xử lí toàn vẹn mối quan hệ giữa công việc và cuộc sống, sau đó tận hưởng cuộc sống làm việc.

4. Từ chối người lọc lõi và "lính nhảy dù"

Môi trường làm việc như chiến trường, cái công ty cần là đội ngũ tích cực trung thành, dựa theo hiệu lệnh chỉ đâu đánh đó. Do vậy, tôi kiên quyết từ chối người lọc lõi (có nhiều kinh nghiệm nhưng láu lỉnh) và "lính nhảy dù".

Nhân viên lọc lõi cậy vào chức vụ và kinh nghiệm để bắt nạt nhân viên mới. Những nhiệm vụ giao cho họ, họ sẽ đẩy cho người mới làm, bản thân thì ngồi uống trà, có công họ nhận, có lỗi thì đổ lên đầu người mới.

Khi quản lý một nhóm nhỏ, họ sẽ phản đối các kế hoạch mới không có lợi cho mình. Công ty không cần đến những người lười biếng tiêu cực kéo theo người khác thụt lùi, càng không cần đến những nhân viên có khả năng làm phản.

Trong công ty của tôi cũng sẽ không có "lính nhảy dù", tầng lớp quản lý đều được đào tạo bồi dưỡng từ nội bộ nhân viên. Bởi vì năng lực của "lính nhảy dù" cao, nhưng sức phá hoại cũng rất mạnh.

Công ty cuối cùng mà tôi làm việc là một ví dụ xương máu.

Sếp để một người tài giỏi lên làm phó, lợi ích mà người này làm ra cho công ty rất khó để nhìn thấy trong thời gian ngắn, ở trong công ty chưa đến 4 tháng, đã lấy đi hơn 20 nhân viên cốt cán của công ty tạo dựng một doanh nghiệp khác, cạnh tranh lại công ty. Chuyện như thế này liệu có hiếm gặp?

5. Ba loại nhân viên mà công ty nên khai trừ ngay lập tức

Đừng nên khoe khoang mình đã dấn thân vào môi trường làm việc nhiều năm nên có thể nhìn thấu mọi người. Khi bạn gặp được ba loại nhân viên này, nhất định phải sa thải ngay lập tức. Đừng hi vọng họ hiểu được sự bao dung của công ty.

5.1 Người có thủ đoạn mạnh, phạm vào "sai lầm chính trị" thì nhất định phải khai trừ

Hóa ra một đồng nghiệp có năng lực rất cao, nhưng thay vì tập trung toàn lực vào công ty, anh ta thường lợi dụng các nguồn lực của công ty để kiếm tiền riêng. Anh ta không bao giờ tham gia đóng góp ý kiến trong nhóm và cũng không chia sẻ kinh nghiệm. Không dừng lại ở đó, anh ta còn che giấu thành quả làm việc của nhóm. Sau cùng mang cả nhóm thành lập một tổ chức khác hoạt động kinh doanh tương tự như công ty cũ.

Một người không muốn bỏ ra công sức cho công ty lại che giấu thành quả có nhiều khả năng là những người phản bội ngầm. Những nhân viên "đứng núi này trông núi nọ" thì không nên giữ lại.

5.2 Những người làm nhiều việc riêng trong giờ làm tuyệt đối nên tránh

Từng có một nhân viên kiêm luôn việc bán đồ trên mạng, nhận các loại chuyển phát nhanh mỗi 5 giờ chiều. Đi làm thì gửi hàng, tan ca thì nhận tiền, đơn hàng nhiều vô kể. Cuối tuần cô ấy đến Hồng Kông để mua hàng hộ, lúc đó tôi có việc tìm cô ấy, đừng nói là không thấy bóng dáng ngay cả gọi điện cũng không nghe.

Một nhân viên khác thành tích công việc miễn cưỡng chấp nhận, chốc chốc lại xin nghỉ với đủ loại lí do. Một lần vội vàng rời đi không kịp tắt máy tính nên để hiện rất nhiều cửa sổ trò chuyện, hóa ra trong giờ làm việc anh ta đã đăng nhập tận 5 tài khoản mạng xã hội, tán gẫu với đủ kiểu chị em phụ nữ, tâm hồn đều đặt vào nơi khác, làm thế nào làm tốt được công việc.

Những người không tập trung vào công việc trong giờ làm và dành nhiều thời gian để làm việc riêng tuyệt đối phải loại khỏi công ty, không nên nhận những nhân viên vào ngồi chỉ để lấy lương.

5.3 Những người dạy mãi không sửa nên được loại bỏ

Không phải ai sinh ra cũng giỏi sẵn, phạm sai lầm trong công việc là điều khó tránh. Tuy nhiên, sau khi nhận ra thì nên lập tức tìm cách giải quyết thay vì cố chấp bảo thủ, dạy mãi không sửa.

Có một nhân viên lỗi lớn không nhiều nhưng lỗi nhỏ không dứt, khi chỉ ra những sai lầm, bề ngoài trông anh ta thừa nhận nhưng kiên quyết không sửa đổi. Phạm lỗi từ lần này đến lần khác, đây đã không còn là vấn đề năng lực làm việc mà là vấn đề về thái độ, giang sơn dễ đổi bản tính khó dời.

Những người thường phạm sai lầm trong công việc chính, thêm vào chỉ bảo nhiều lần mà không sửa cũng nên sa thải. Đừng sợ đuổi việc người khác. Một người không thích hợp cho việc phát triển công ty, để anh ta lại là đang lãng phí thời gian của anh ta. Thay một công việc khác có lẽ sẽ giúp ích cho cuộc đời sự nghiệp của anh ta hơn.

6. Không thể thiếu chế độ kiểm tra đánh giá

Chế độ sát hạch là cách tốt nhất để kiểm tra tình hình công việc. Công ty mỗi tuần sát hạch một lần, tuần này không đạt tiêu chuẩn thì tuần sau sẽ bù vào. Tích lũy lại để hoàn thành chỉ tiêu của tháng, làm thành sát hạch hàng tháng sau đó dựa theo kết quả đánh giá mà khen thưởng hay xử phạt.

Nhà sáng lập Du Mẫn Hồng nói: "Một hệ thống tổ chức doanh nghiệp tốt là ở việc thiết lập một cơ chế đánh giá khoa học và công bằng. Nếu cơ chế này không công bằng, nhất định sẽ để lại những người yếu kém."

Hệ thống sát hạch của công ty New Oriental (Tân Phương Đông) mà ông sáng lập, thường được gọi là "tay quyết định cho não": Khi làm đúng phần việc thì thu nhập và lợi nhuận sẽ là kết quả tự nhiên. New Oriental đã về đúng hướng bằng việc đánh giá chỉ tiêu, nhờ đó thành tích và cổ phiếu đều tăng lên.

Rất nhiều người nếu đã đọc qua bài báo về việc vỡ nợ của các doanh nghiệp đều biết rằng: Không phải tất cả công ty đều có thể như Google được quản lý cởi mở thay vì sát hạch, suy cho cùng chất lượng của năng lực không phải ở cấp bậc.

Mỗi ngày trà sáng trà chiều, 5 tiếng làm việc 3 tiếng nghỉ ngơi, 10 giờ đến 16 giờ về. Việc này hời hợt hơn là làm kinh doanh. Không chịu trách nhiệm với nhà đầu tư, không chịu trách nhiệm với công ty, cũng như lãng phí thời gian của nhân viên. Do đó chế độ kiểm tra đánh giá rất cần thiết. Thông qua đánh giá có thể nâng cao sự ràng buộc trong việc quản lý, từ đó nâng cao khả năng thực thi của nhân viên.

7. Hệ thống tổ chức quan trọng hơn nhân tài

Những người tài năng mà bạn nhìn thấy không nhất định giỏi thật sự. Rất nhiều "chuyên gia" có ảnh hưởng to lớn trên mạng chẳng qua chỉ là sở hữu kinh nghiệm vài năm khởi nghiệp thất bại, ra bên ngoài lay động những người ngoài nghề. Còn trong ngành có thành thạo hay không thì người trong cuộc đều biết rõ. Những người giỏi thật sự đều đề cao làm việc hơn là làm người.

Vì vậy, các công ty không cần phải bỏ công tìm kiếm cái gọi là "nhân tài". Hệ thống tổ chức tốt chính là một hệ thống biết khai thác những nhân tài. Phó chủ tịch cũ của Huawei, Lý Nhất Nam, đã từng rời đi hai lần. Không có anh ta Huawei vẫn vận hành bình thường, còn anh ta loay hoay thế nào lại khiến bản thân bị nhốt trong lao tù.

Trong một hệ thống tổ chức tốt thì những nhân tài mới có thể phát huy hiệu quả làm việc. Steve Jobs nói rằng một lập trình viên ưu tú bằng 50 lập trình viên bình thường, điều đó thuộc về một ngành nghề đặc biệt. Còn trong hầu hết các ngành nghề, những người dù có năng lực giỏi hơn nữa, lợi nhuận tạo ra cũng không thể cao hơn ba người bình thường.

Do đó, các công ty cần "kích hoạt" giá trị lao động thông qua hệ thống tổ chức. Hệ thống tổ chức và chế độ kiểm tra đánh giá bổ sung cho nhau, giúp tầng lớp quản lý đến nhân viên bình thường đều có thể phát huy hiệu quả cao nhất. Vì để duy trì khả năng thực thi mạnh mẽ, công ty nên chọn ra người kiểm tra để đảm bảo số lượng và chất lượng công việc của nhân viên.

8. Phân công rõ ràng và ủy quyền hợp lý

Lúc công ty vừa mới khởi đầu, mọi thứ đều do tôi tự làm. Từ đóng thuế cho đến tuyển dụng, ngay cả lắp đặt mạng cũng phải đích thân đi tìm người. Bản thân ngày càng bận rộn trong khi nhân viên lại nhàn nhã tán dóc. Tôi ý thức được mình phải thoát khỏi những chuyện vặt vãnh thế này.

Sau khi công ty lớn mạnh, nếu như việc gì cũng phải để sếp trông coi thì công ty đã cách con đường sụp đổ không bao xa. Ủy quyền hợp lí để cấp dưới có nhiều quyền lực hơn, không chỉ có thể thúc đẩy công ty đi lên mà còn nâng cao năng lực của nhân viên. Kể từ khi cho phép những nhân viên quản lý dự án có quyền tự chủ hơn, công ty đã gặt hái nhiều thành tựu to lớn trong quản lý tài năng và đã xây dựng được những đội ngũ mạnh nhất. Giữa các đội ngũ với nhau sẽ có môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Trong mỗi đội, nhân viên đều được phân công rõ ràng, trong nội bộ đội ngũ không ngừng xuất hiện những người tài năng. Từ nhân viên đến người quản lý, tiềm năng của mỗi người đều được tìm thấy và "kích hoạt", đây sẽ là động lực để những người ở sau phấn đấu tiến lên phía trước.

9. "Chinh phục" văn hóa doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp xuất sắc có thể ảnh hưởng đến tinh thần của nhân viên và thay đổi thái độ làm việc của họ.

Lúc công ty mới thành lập cạnh tranh rất khốc liệt, chúng tôi có thể nổi bật lên trong số những ngành nghề giống nhau chỉ bởi vì công ty đi theo hướng "chinh phục" văn hóa doanh nghiệp.

Nhân viên dám gánh vác trách nhiệm, dám đương đầu khó khăn. Từ làm việc thụ động chuyển sang làm việc chủ động, khi xuất hiện vấn đề thì từ đùn đẩy trách nhiệm chuyển sang chủ động thừa nhận trách nhiệm.

"Văn hóa loài sói" của Huawei được ca ngợi như một văn hóa doanh nghiệp kinh điển. Các doanh nghiệp nên nói không với nhân viên "thỏ trắng" và để nhân viên chiến đấu như những chú sói. Những người có năng lực sẽ trở thành chú sói dẫn đầu trong đội ngũ và dẫn dắt đồng đội tiến về phía trước.

Một nhân viên nữ sinh năm 94 của công ty có khả năng chiến đấu cực kì mạnh mẽ, thành tích mỗi tháng hoàn thành vượt chỉ tiêu, tiền thưởng cao hơn tiền lương còn lương tháng thì cao ngất. Tôi thử đưa vài người mới để cô ấy đào tạo, vài tháng sau cô ấy dẫn theo những người mới có khả năng chiến đấu tương đương mình. Có thể thấy rằng một nhân viên tốt sẽ không chỉ giỏi chiến đấu mà còn phải biết dẫn dắt đồng đội.

"Khởi nghiệp thì dễ mà duy trì lại khó."

Sau khi khởi nghiệp, tôi thấy rằng: Không ai sinh ra đã biết kinh doanh, bẩm sinh đã có hiểu biết về quản lý. Đó đều là những trải nghiệm của bản thân trong quá trình lăn lộn để duy trì doanh nghiệp. Trong quá trình học quản lý, tôi cũng đã nhìn lại chính mình. Suy cho cùng thì khởi nghiệp chính là quá trình tự nhận thức lại bản thân. Con đường duy trì sự nghiệp mênh mông vô tận, tôi vẫn cần phải trau dồi học hỏi thêm.

* Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả

Theo Trí Thức Trẻ

QC

 
Copyright © 2014 HVDong. Designed by OddThemes