TIN TỨC MỚI

Hãy nói 'Cảm ơn' nhiều lên, và 'Xin lỗi' ít đi

Trong nhiều tình huống, lời cảm ơn sẽ mang lại cho cả hai nhiều điều tốt đẹp hơn cả câu xin lỗi. Đôi khi, chúng ta quên mất rằn...

2021 là năm con gì? Là mệnh gì? Hợp mệnh gì?


    Năm 2021 là năm con gì?

    Sinh năm 2021 là tuổi con Trâu

    - Thiên can: Tân

    + Tương hợp: Bính

    + Tương hình: Ất, Đinh

    - Địa chi: Sửu

    + Tam hợp: Tỵ – Dậu – Sửu

    + Tứ hành xung: Thìn – Tuất – Sửu – Mùi

    Theo lịch vạn niên, năm Âm lịch 2021 có mốc thời gian Dương lịch bắt đầu từ ngày 12/02/2021 đến ngày 31/01/2022.

    Người sinh năm 2021 theo Âm lịch thuộc tuổi Tân Sửu, tức là con trâu, con giáp đứng hàng thứ 2 trong danh sách 12 con giáp.

    Dân gian có câu:

    “con trâu là đầu cơ nghiệp”

    Theo quan niệm dân gian, trâu là loài vật gần gũi trong đời sống con người. Với sức mạnh của mình, trâu giúp người nông dân cày bừa, sản xuất nông nghiệp.

    Có lẽ vì vậy mà người tuổi Sửu với tính cách chăm chỉ, chịu khó, không ngại gian khổ và vất vả cũng giống như những chú trâu chăm chỉ làm việc quanh năm. Tính cách người tuổi Sửu thường nhất quán theo hướng chỉ cần cố gắng thì nhất định sẽ đạt được thành công. Vì vậy, họ thường được người khác tin tưởng và giao cho nhiều trọng trách quan trọng.

    Người tuổi Sửu cũng luôn biết lo toan cho gia đình, đảm bảo cho đời sống người thân được đủ đầy.

    Sinh năm 2021 là mệnh gì?

    Mệnh: Thổ - Bích Thượng Thổ - Đất tò vò

    + Tương sinh:Kim, Hỏa

    + Tương khắc: Thủy, Mộc

    Theo bảng Can – Chi – Mệnh, người sinh năm Tân Sửu 2021 có cùng bản mệnh với những trẻ sinh năm Canh Tý 2020 là mệnh Thổ (cụ thể là Bích Thượng Thổ: Đất tò vò, đất trên vách). Loại đất này mang ý nghĩa mang đến cuộc sống bình yên và an toàn cho con người.

    Điểm nổi bật mệnh Bích Thượng Thổ là sự cân bằng, tâm lý và lập trường vững vàng, không dễ bị ngả nghiêng theo dư luận cuộc đời. Do coi trọng nghĩa khí, chính trực, tuân thủ những quy tắc cũng như những chuẩn mực bản thân đặt ra, nên nếu phạm phải những điều đó, họ luôn thấy cắn rứt, ân hận.

    Theo hình tượng “đất trên tường” chỉ ý nghĩa bảo vệ che chở cho người khác, do đó, người Bích Thượng Thổ hay giúp đỡ người khác, sẵn sàng hi sinh, cống hiến mà không nề hà, toan tính. Với tố chất này, họ có thể tiến xa trong tương lai.

    Tuy nhiên, đôi khi người mệnh Bích Thượng Thổ lại quá cứng nhắc theo khuôn khổ, ít tùy cơ ứng biến trong cuộc sống và công việc, có thể dẫn đến việc trở nên bảo thủ, lạc hậu.

    Như vậy, có thể nhìn thấy nhiều điểm chung giữa tuổi Sửu và mệnh Bích Thượng Thổ. Người sinh năm Tân Sửu, mang mệnh Bích Thượng thổ sẽ được hưởng phúc đức và thành công trong cuộc sống.

    Ngoài ra, dựa vào thuyết âm dương ngũ hành, bản mệnh Bích Thượng Thổ rất hợp với các màu thuộc hành Thổ như vàng, nâu, nâu sẫm. Hỏa sinh Thổ nên các màu tượng trưng hành Hỏa như đỏ, cam, hồng đậm cũng cũng phù hợp với người mệnh Bích Thượng Thổ.

    Một số thông tin thêm về người sinh năm 2021

    1 . Sinh năm 2021 hợp màu gì?

    Màu sắc hợp:

    + Màu bản mệnh: Vàng sẫm, nâu đất thuộc hành Thổ.

    + Màu tương sinh: Màu đỏ, cam, hồng, tím thuộc hành Hỏa.

    Màu kiêng kỵ

    + Màu xanh lá cây, xanh nõn chuối thuộc hành Mộc.

    2. Sinh năm 2021 cung gì?

    Nam: Càn Kim thuộc Tây tứ mệnh

    Nữ: Ly Hỏa thuộc Đông tứ mệnh

    3. Sinh năm 2021 hợp con số nào?

    Nam hợp các số: 6, 7, 8

    Nữ hợp các số: 3, 4, 9

    4. Sinh năm 2021 hợp hướng nào?

    Nam mạng

    + Hướng hợp: Tây (Sinh Khí) - Tây Nam (Phúc Đức) - Đông Bắc (Thiên Y) - Tây Bắc (Phục Vị)

    + Hướng không hợp: Nam (Tuyệt Mệnh) - Đông (Ngũ Quỷ) - Đông Nam (Họa Hại) - Bắc (Lục Sát)

    Nữ mạng

    + Hướng hợp: Đông (Sinh Khí) - Bắc (Phúc Đức) - Đông Nam (Thiên Y) - Nam (Phục Vị)

    + Hướng không hợp: Tây Bắc (Tuyệt Mệnh) - Tây (Ngũ Quỷ) - Đông bắc (Họa Hại) - Tây Nam (Lục Sát)

    5. Sinh năm 2021 hợp tuổi nào?

    Nam mạng:

    + Trong làm ăn: Quý Mão, Ất Tỵ, Bính Ngọ

    + Lựa chọn vợ chồng: Quý Mão, Ất Tỵ, Bịnh Ngọ, Kỷ Dậu, Canh Tý, Kỷ Hợi

    + Tuổi kỵ: Tân Sửu đồng tuổi, Đinh Mùi, Canh Tuất, Quý Sửu, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Ất Mùi

    Nữ mạng:

    + Trong làm ăn: Quý Mão, Ất Tỵ, Kỷ Dậu

    + Lựa chọn vợ chồng: Quý Mão, Ất Tỵ, Kỷ Dậu, Canh Tý, Kỷ Hợi

    + Tuổi kỵ: Giáp Thìn, Bính Thìn

    Sinh con năm Tân Sửu 2021

    Nhiều cặp vợ chồng chọn sinh con theo mệnh hợp tuổi với mong muốn mang lại nhiều điều may mắn, tốt đẹp cho cả gia đình. Và nếu bạn đang có kế hoạch sinh con vào năm 2021 thì hãy tham khảo nội dung sau đây.

    Cuộc đời người mệnh Thổ nói chung và mệnh Bích Thượng Thổ nói riêng có rất nhiều điểm tốt. Tính cách người mệnh Thổ là chăm chỉ và thích ổn định. Thông minh nhanh nhẹn, có tài ăn nói, hiểu biết, có giác quan thứ 6, nên theo đuổi những ngành nghề như giáo viên, đoán mệnh.

    Dù là nam giới hay nữ giới thì cuộc đời người này cũng có nhiều ưu đãi do Thổ có tính Thủy, ngoài cứng trong mềm, có một chút linh hoạt hơn so với các Thổ khác. 

    - Nam giới mệnh tốt về công danh sự nghiệp, trung vận là phát đạt thành công. 

    - Nữ giới mệnh lại hưởng lợi về chuyện nhân duyên tình cảm, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, mỹ mãn, trung vận có tiền, hậu vận thì an nhàn.

    Nhìn chung, tuổi Tân Sửu của mệnh của nam tốt hơn mệnh của nữ bởi nữ giới có chút buồn phiền về tiền bạc, long đong, vất vả một thời gian mới được ổn định. Nữ giới càng ăn ở hiền lành lương thiện thì càng có nhiều phúc đức, vận trình sẽ tốt đẹp hơn nhiều lần.

    Trên đây là bài viết về năm 2021 có thể là thông tin hữu ích để mọi người tham khảo để biết rõ hơn về năm Tân Sửu 2021.

    Nguồn: tổng hợp

    Tháng cô hồn là gì? Vì sao vào tháng 7 âm lịch?


    Bạn đã nghe nói về tháng cô hồn?

    Tháng cô hồn là gì?

    Và thực sự có đáng sợ như mọi người vẫn đang nghĩ?

    Bài viết này sẽ giúp các bạn có cái nhìn toàn cảnh hơn về tháng cô hồn cả theo dân gian, theo phật giáo, theo khoa học và cả theo kinh tế.

    Hãy cùng bắt đầu nhé!

    Trước hết tìm hiểu về nguồn gốc của tháng cô hồn là gì?

    Từ xưa đến nay vẫn luôn truyền tai nhau rằng tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn mà chẳng những ở việt nam mà còn ở nhiều nước sử dụng lịch âm, ví dụ như Trung Quốc, Nhật Bản.

    Theo Trung Quốc thì tháng cô hồn là tháng có những linh hồn và ma quỷ xuất hiện. Nguyên nhân là vào ngày mồng 2/7 âm lịch Diêm Vương mở cửa quỷ môn quan cho phép ma quỷ được trở lại nhân gian cho đến ngày 14/7 thì cửa sẽ đóng lại. Trong thời gian này nếu quỷ đói không được cho ăn thì sẽ phá phách gây những khó khăn bất lợi và những chuyện đen đủi cho trần thế , bên cạnh đó còn có sự tích về 1 người tên là Annada đã gặp 1 con quỷ đói lý giải cho việc này .

    Còn trong dân gian Việt Nam thì cũng có 1 phần có điểm giống như Trung Quốc cho rằng tháng 7 linh hồn sẽ xuất hiện nhiều , đồng thời người Việt cũng cho rằng tháng 7 là dịp để xá tội vong nhân. Đây là tháng để tưởng nhớ báo hiếu với tổ tiên với những người đã khuất để thể hiện lòng vị tha của người sống với những người đã ra đi để cúng tích đức – tích phúc cho Vong Linh và tránh gặp những chuyện xui xẻo.

    Dưới góc nhìn của Đạo Phật thì theo thượng tọa thích thanh tuấn , ủy viên Hội đồng trị sự trung ương giáo hội phật giáo Việt Nam cho biết quan niệm cho rằng tháng 7 âm lịch là tháng ma quỷ hành hoành mang đến nhiều điều xui xẻo là không đúng với lời dạy của đạo phật.

    Mà tháng 7 với đạo phật mang ý nghĩa là bố thí giúp đỡ những linh hồn vật vờ không có thân thiết trên trần gian để họ được bình an, siêu thoát. 

    Còn đối với góc nhìn khoa học thì các nhà khoa học cho rằng người dân lo lắng về tháng 7 hay gặp những chuyện xui xẻo cũng có lý của nó. Đó là bởi vì tháng 7 là giai đoạn chuyển mùa mưa nắng thất thường đó có người rất dễ bị mệt mỏi , ốm đau bệnh tật , đây là cái xui xẻo thứ nhất. Tiếp đó thời tiết và con người không ổn định dẫn đến cuộc sống và công việc cũng không được thuận lợi và may mắn đó là cái xui xẻo thứ 2. Trong thời gian này , người ta thường không dám làm những việc lớn, ở góc độ kinh tế khi người dân đã sợ điều đen đủi xảy đến với tháng cô hồn , họ sẽ không dám làm những việc đại sự như xây nhà mua xe hay cưới hỏi. Vì đó mà những ngành nghề có liên quan như bất động sản, buôn bán xe cộ, nội ngoại thất hay dịch vụ cưới hỏi đều trở nên yên ắng đến lạ thường, thậm chí theo thống kê vào tháng bồn , các doanh nghiệp đăng ký mới cũng giảm rất nhiều so với bình thường nhìn chung thì hầu hết mọi người làm kinh doanh đều không thích tháng 7 cho lắm, 1 tháng ảm đạm.

    Bên cạnh đó lại có 1 bộ phận nhỏ , những doanh nhân chỉ mong cả năm đều là tháng 7, đó là những người làm nghề liên quan đến phong thủy. Theo Tạp Chí Thương Trường cho biết tháng 7 đúng là cơ hội hốt bạc của những người bán đồ phong thủy , một số sản phẩm nổi bật như tượng phật, đá trang sức, vàng trầ, vòng dâu tằm. Thậm chí bây giờ có nhiều mặt hàng cao cấp hơn đó là bùa ngải hàng nhập khẩu xịn , người bán hàng cũng có rất nhiều dòng sản phẩm đa dạng và hot trend như bùa yêu, bùa hồ li, bùa quyến rũ. Nghe liên tưởng đến nơi sản xuất của những cái bùa này có lẽ là 1 cái động pháp sư. Giá bùa thì cũng rất yêu thương từ vài chục nghìn cho đến cả triệu đồng 1 cái.

    Đúng là thức thời mới là Trang Tuấn Kiệt, ngoài da các sản phẩm vàng mã cũng rất được ưa chuộng. Trong khi nhãn hàng Toyota đang làm ăn ế ẩm trong tháng cô hồn thì thương hiệu Toyota vàng mã lại trở nên rất hot và thịnh hành. Hy vọng Toyota của Nhật Bản sẽ không nhảy qua cạnh tranh với Toyota thủ công của Việt Nam.

    Nhìn chung, theo dân gian thì tháng cô hồn là tháng không mấy may mắn để làm việc lớn, còn đáng sợ hơn nữa thì đó là tháng của ma quỷ và những linh hồn lang thang, đây đúng là 1 tháng không vui vẻ với nền kinh tế.

    Để trải qua 1 tháng cô hồn với những điều may mắn thì với những người tin vào Tâm Linh hàm nhiều việc thiện không làm những việc đại sự.

    Với những người không tin thì hãy giữ gìn sức khỏe và cẩn thận trọng của việc vì thời tiết thay đổi và nhiều thiên tai xuất hiện không cẩn thận rất dễ gặp chuyện chẳng lành.

    Nguồn theo: KIẾN THỨC THÚ VỊ Officia

    6 chiếc lọ tài chính - Quản lý tài chính cá nhân hiệu quả


      6 chiếc lọ tài chính là gì?

      Bạn đã từng gặp khó khăn trong việc quản lý tiền bạc và cân đối chi tiêu?

      Đã bao giờ bạn cảm thấy việc cố gắng tiết kiệm tiền trở thành áp lực cho cuộc sống hàng ngày của bạn?

      Nếu bạn có cảm giác như vậy, hãy tìm hiểu ngay công thức 6 chiếc lọ - bí quyết quản lý tiền bạc nổi tiếng khắp thế giới, được giới thiệu bởi T.Harv Eker, doanh nhân - diễn giả - tác giả cuốn best-seller "Bí mật tư duy triệu phú".

      Quản lý tài chính cá nhân hiệu quả là một trong những bước quan trọng nhất của việc làm giàu. Nó không chỉ giúp bạn có được cuộc sống an nhàn mà còn giúp bạn có được tuổi già hạnh phúc. Đây cũng  là một trong những bài học có ý nghĩa đối với các triệu phú – những còn người theo đuổi một cuộc sống tự do tài chính.

      Để quản lý tiền bạc thành công và hướng tới sự tự do tài chính, việc đầu tiên cần làm là lên kế hoạch sử dụng tiền bạc một cách hợp lý. Khi áp dụng quy tắc 6 chiếc lọ, số tiền của mỗi người sẽ được chia thành 6 quỹ tài chính, nhờ đó bạn có thể kiểm soát tài chính của mình tốt hơn.

      Bất cứ ai cũng có thể sử dụng phương pháp 6 cái lọ để quản lý tiền bạc, kể cả khi bạn nghĩ rằng mình không có nhiều tiền để quản lý. Điều quan trọng là bạn cần phát triển nó thành thói quen. Thậm chí, với 100 nghìn đồng, bạn vẫn có thể bắt đầu phương pháp này.

      Những người thành công đều đã áp dụng nó vào cuộc sống và đạt được kết quả tốt nhất. Họ còn truyền lại phương pháp quản lý tài chính cá nhân đặc biệt này để giáo dục tư duy triệu phú cho thế hệ sau. Nếu bạn tuân thủ theo công thức này thì chắc chắn rằng tương lai tài chính của bạn sẽ phát triển hơn.

      Quy tắc 6 chiếc lọ tài chính bao gồm


      LỌ SỐ 1: Nhu cầu thiết yếu – NEC: 55%

      Quỹ Chi tiêu cần thiết (NEC) giúp bạn đảm bảo nhu cầu thiết yếu, sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống. Quỹ NEC này cũng sử dụng cho các mục đích ăn uống, sinh hoạt, chi trả hóa đơn, vui chơi, giải trí và mua sắm cần thiết. Đây là lọ chiếm phần trăm thu nhập của bạn cao nhất.

      Nếu bạn đang sử dụng quá 80% thu nhập cho các chi tiêu cần thiết, bạn cần tăng cường tổng thu nhập hoặc thay đổi lối sống, cắt giảm chi tiêu.

      Tác dụng của tài khoản này là để bạn biết được giới hạn chi tiêu, từ đó thay đổi lối sống cho phù hợp.

      LỌ SỐ 2: Tiết kiệm dài hạn – LTS: 10%

      Bạn sử dụng khoản tiết kiệm dài hạn (LTS) này cho những mục tiêu dài hạn, lớn hạn như mua xe, mua nhà, sinh em bé, thực hiện ước mơ... Có quỹ LTS sẽ giúp bạn thấy được mục đích mình nhắm tới, và có động lực tiết kiệm dần dần cho việc đó.

      Điều quan trọng là bạn cần thực hiện tiết kiệm ngay khi nhận được thu nhập, qua đó sẽ tránh tiêu vào số tiền này. Một trong những cách tiết kiệm dễ dàng và hiệu quả nhất là sử dụng các sản phẩm tiết kiệm gửi góp trực tuyến. Xem thêm bài viết Sức mạnh vô biên của lãi kép và tiết kiệm gửi góp Easy Saving.

      Quỹ này là tiết kiệm tiền dành cho khi khó khăn.

      Tác dụng của tài khoản này là để bạn thấy rõ được mục đích mình nhắm tới, và tiết kiệm tiền dần dần cho việc đó.

      LỌ SỐ 3: Giáo dục – EDUC: 10%

      Bạn cần trích 10% thu nhập cho việc học thêm, trau dồi kiển thức của bạn thân. Bạn có thể dùng quỹ giáo dục (EDU) này để mua sách, tham gia các khóa học, đào tạo, các buổi gặp gỡ chia sẻ từ những người thành công.

      Tác dụng của tài khoản này là bắt bạn phải liên tục đầu tư vào chính bản thân mình, vì càng đầu tư vào kiến thức thì bạn sẽ càng sinh lời, chẳng bao giờ sợ lỗ.

      LỌ SỐ 4: Hưởng thụ – PLAY: 10%

      Đây là khoản tiền bạn dành cho việc hưởng thụ, mua sắm xa xỉ, chăm lo cho bản thân, làm những việc mới mẻ, tăng cường trải nghiệm... Quỹ Hưởng thụ (PLAY) giúp bạn có động lực để làm việc tốt hơn.

      Quỹ PLAY cần được tiêu dùng liên tục. Nếu bạn không sử dụng hết quỹ PLAY, có thể bạn đang mất cân bằng cuộc sống và không dành đủ sự chăm sóc cho bản thân.

      Tác dụng của tài khoản này là để bạn tự thưởng, từ đó có động lực làm việc hơn.

      Mỗi tháng, vào ngày cuối cùng của tháng, bạn phải tiêu hết số tiền trong quỹ này.

      LỌ SỐ 5: Quỹ tự do tài chính – FFA: 10%

      Tự do tài chính (FFA) là khi bạn có một cuộc sống như mong muốn mà không cần làm việc hay phụ thuộc tài chính vào người khác. FFA là khoản bạn sử dụng để tham gia các hoạt động tạo ra thu nhập thụ động như gửi tiết kiệm, đầu tư, góp vốn kinh doanh. Bằng cách này, bạn đã tạo ra "con ngỗng" đẻ trứng vàng để sử dụng khi không còn làm việc.

      Quỹ tự do tài chính FFA, bạn không bao giờ được tiêu tiền trong quỹ này, chỉ dùng nó để đầu tư tạo ra thu nhập thụ động.

      Xin lưu ý: đừng bao giờ được tiêu tiền trong quỹ này.

      LỌ SỐ 6: Cho đi – GIVE: 5%

      Đây là khoản tiền bạn sử dụng để làm từ thiện, giúp đỡ cộng đồng, người thân, bạn bè. Nếu bạn có nhiều thứ phải chi trả hơn, hãy giảm tỷ lệ này xuống, nhưng luôn trích một khoản để giúp đỡ người khác.

      Làm sao để luyện tập phương pháp JARS?

      Bạn hãy dành ra thời gian để ngồi tình toán lại tiền bạc cá nhân của chính mình

      Đầu tiên bạn hãy ghi ra số tiền mà bạn sẽ có mỗi tháng là bao nhiêu, rồi chia đều cho các tài khoản theo tỷ lệ nêu trên.

      Không quan trọng là số tiền bạn chuyển bao nhiêu, quan trọng là thói quen hàng ngày.

      Thói quen quan trọng hơn số tiền.

      Thậm chí 1000 đ một ngày cũng được. Nếu trong tay bạn không hề có đồng tiền nào thì cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên. Khi bạn không có tiền để chia lúc đó bạn sẽ thấy sự đau khổ và bạn sẽ có động lực để kiếm tiền hơn.

      Nguyên tắc tắc áp dụng

      Vấn đề cho tiền vào các lọ này cần được thực hiện hàng ngày, tôi nói là HÀNG NGÀY. Nếu bạn làm hàng ngày nhưng số tiền chỉ tăng vào mỗi cuối tháng, tức là bạn đang chỉ làm công, ăn lương. Hãy tìm kiếm thêm các nguồn thu nhập thụ động khác để bổ sung nguồn thu của mình mỗi ngày.

      Tuân thủ nghiêm việc chi tiêu giới hạn số lượng tiền trong các hũ bạn đã dự tính, nếu cần thay đổi để cho phù hợp bạn có thể linh động thay đổi số % ở các hũ phù hợp với mình.

      Không dùng tiền của quỹ này để tiêu trong quỹ kia. Nếu thiếu quỹ nào thì hãy để dành để tiêu vào tháng sau khi có đủ tiền (không vì quỹ khác thừa nhiều mà lấy ra để bù vào).

      Bạn hãy thử ngay "bí kíp" 6 chiếc lọ này ngay và thường xuyên nhé. Nếu áp dụng đúng cách, bạn không chỉ vừa đủ tiền chi trả sinh hoạt, tiết kiệm cho tương lai mà còn luôn tìm thấy động lực trong cuộc sống!


      Nguồn: tổng hợp vpbank.com.vn webtaichinh.info …

      Bánh xe cuộc đời là gì? Áp dụng để cân bằng cuộc sống


        Bánh xe cuộc đời là gì?

        Bánh xe cuộc đời là một trong những công cụ tự đánh giá, tự khám phá bản thân tuyệt vời giúp bạn hình dung được các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống của mình.

        Đã bao giờ bạn tự hỏi?

        Làm thế nào để thiết lập cân bằng cuộc sống của bạn?

        Bạn thử ngẫm xem, Bố mẹ tập trung vào kiếm tiền, quên mất đi thời gian dành cho con cái dẫn đến rạn nứt mối quan hệ. Lãnh đạo, quản lý tập trung vào tối đa hóa lợi nhuận mà quên đi văn hóa. Con người thì tinh thần làm việc kém, lo tập trung vào sự nghiệp và kiếm tiền mà quên mất sức khỏe, sau này lại dùng tiền để chữa bệnh. Bánh xe cuộc đời lăn lên hay lăn xuống là do bạn.

        Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực huấn luyện/khai vấn cho rằng bánh xe cuộc đời là một công cụ mang lại hiệu quả rất cao trong quá trình hỗ trợ khách hàng của họ.

        Bánh xe cuộc đời cũng sẽ giúp bạn định hình được bản thân mình với với những mục tiêu cụ thể để tiến đến cuộc sống hạnh phúc, trọn vẹn mà bạn muốn đạt được.

        Bánh xe cuộc đời giúp bạn thực hiện những điều trên thông qua việc hỗ trợ bạn trong quá trình đánh giá, khai vấn cuộc sống của chính mình.


        Giả sử cuộc sống của bạn là một bánh xe, được lăn trên hành trình cuộc đời và có 8 nan xe tượng trưng cho 8 lĩnh vực “ Tài chính, Sức khỏe, Phát triển bản thân, Mối quan hệ, Sự nghiệp, Môi trường sống, Tâm linh, Đóng góp xã hội” Và chiếc bánh xe ấy tròn hay méo là chính bạn tạo nên nó.

        Bạn thử hình dung nếu sử dụng bánh xe này để lắp vào chiếc xe đưa bạn tới cuộc sống cân bằng, trọn vẹn, thì bạn nghĩ nó sẽ đi được bao lâu trước khi bạn té “sấp mặt”.

        Vậy mà rất nhiều người hiện nay vẫn cố chạy thật nhanh bằng một bánh xe “méo mó” như vậy và rồi họ tự hỏi rằng, mình đã cố gắng, đã nỗ lực ghê gớm nhưng tại sao mọi thứ vẫn không trọn vẹn.

        Nếu bạn không muốn nhìn thấy bản thân mình rơi vào hoàn cảnh đó. Vậy thì hãy cùng mình xây dựng bánh xe “tròn trịa” hơn nào hoặc cân đối nhất theo nhu cầu của bạn.

        Cấu tạo của bánh xe cuộc đời

        Tùy thuộc vào mỗi người có thể sẽ chia các phần khác nhau, có người chỉ cần 5 phần, có người 6 phần ... Tuy nhiên hôm nay mình sẽ nói về bánh xe cuộc đời với 8 phần tương ứng 8 khía cạnh khác nhau:

        1. Sức khỏe

        “Có sức khoẻ thì ta có hàng triệu ước mơ, nhưng khi không có sức khoẻ, ta chỉ có một ước mơ, đó là sức khoẻ”.

        Vậy, sức khoẻ hiện tại của bạn đang như thế nào? Bạn có tập thể dục đều đặn và có chế độ ăn uống hợp lý, bạn có đi khám sức khoẻ theo định kỳ? Hay bạn vẫn chủ quan, để rồi: “Tuổi trẻ thì bán sức khoẻ để kiếm tiền, về già rồi lại dùng tiền đi mua sức khoẻ?”

        “ Ở đâu đó trên Thế giới này, đang có một người rèn luyện hàng ngày, để một ngày nào đó, khi gặp bạn, họ sẽ đánh bại bạn ”.

        2. Phát triển bản thân

        Xã hội luôn phát triển không ngừng, nếu bạn dậm chân tại chỗ, đồng việc với việc bạn đang bị tụt lùi!

        Bạn có biết giáo dục Việt Nam chỉ dạy về Kiến thức (Knowledge) dẫn đến học sinh, sinh viên ra trường mất phương hướng, không có hoài bão và mơ ước (vấn đề về Thái độ – Attitute) và thiếu kỹ năng trầm trọng (vấn đề về Kỹ năng – Skill).

        Vì vậy, bạn phải hành động ngay, phát triển bản thân toàn diện cả A,S,K, như một quá trình liên tục, mãi mãi.

        Ngoài học ở trường, bạn hãy siêng đọc sách, báo, tham gia các khóa đào tạo, tìm cho mình những người thầy giỏi và không quên người thầy lớn nhất đó là Google.com

        Ngay cả khi đọc bài viết này, bánh xe cuộc đời, bạn cũng đang phát triền bản thân mình đấy!

        Hãy mài gươm thật bén, sẵn sàng cho Sự nghiệp để bứt phá mọi giới hạn nhé!

        3.  Mối Quan Hệ

        Đời bạn, có 5 lựa chọn:

        • Chọn bạn để chơi
        • Chọn thầy để học
        • Chọn việc để làm
        • Chọn vợ để lấy
        • Chọn lẽ để sống

        Hãy biết tạo ra, chọn lọc, giữ gìn và phát triển các mối quan hệ cần thiết, đừng phí thời gian cho những mối quan hệ xã giao.

        Bạn có tin, bạn chính là trung bình cộng của 5 người bạn thân nhất. Chơi với bầy gà, bạn ắt hẳn là gà, nhưng chơi với đại bàng, bạn sẽ thành đại bàng. Vì vậy đừng chơi với những người tiêu cực, mà hãy tìm cho mình những người bạn tích cực, để cùng nhau san sẻ những điều hay ho trong cuộc sống.

        Hãy tìm cho mình những người thầy giỏi để học trong cuộc đời . Bạn thiếu kỹ năng lãnh đạo hãy tìm người giỏi lãnh đạo để học, bạn thiếu kiến thức tài chính thì học tài chính,… Hãy biết “ Đứng trên vai người khổng lồ ”.

        Hãy lưu giữ và phát triển các mối quan hệ giá trị: đối tác, khách hàng, đồng nghiệp,… những người sẽ giúp đỡ và mang cơ hội đến cho bạn.

        Hãy luôn nâng niu và trân trọng gia đình – Nơi cuối cùng bình yên và bến đỗ cuộc đời.

        Cuộc sống của bạn sẽ thật ý nghĩa nếu được sống trong sự quan tâm và yêu thương của mọi người xung quanh.

        Hãy nhớ “ Điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đến được trái tim”. Howard Schultz.

        4. Tài chính

        “ Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn. Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn.” – Bill Gates

        Tiền không thể mua được hạnh phúc - Nhưng khó có thể hạnh phúc khi không có tiền.

        Hãy lên cho mình 1 kế hoạch tài chính thông mình, tìm hiểu 6 chiếc lọ tài chính. Để bạn có thể kiểm soát tài chính 1 cách phù hợp.

        5. Sự nghiệp

        Sự nghiệp được đo bằng tài chính và danh tiếng. Nếu muốn thành công trong sự nghiệp, hãy kiếm tiền một cách tử tế!

        Nếu bạn đi theo đúng trình tự như trên thì sự nghiệp thành công chính là hệ quả bạn nhận được.

        Tôi rất thấm thía câu nói: “ Nếu bạn không xây giấc mơ của mình, người khác sẽ thuê bạn để giúp xây giấc mơ của họ “.-  Tony Gaskins

        Tại sao bạn không làm chủ cuộc đời của mình, chẳng hạn bạn có thể trở thành doanh nhân – những người kiến tạo ra thế giới này. Chấp nhận dấn thân, vượt qua mọi rào cản, đau thương để bứt phá mọi giới hạn. Lọt vào số ít 10% dân số, nhưng nắm giữ 90% tài sản trên thế giới.

        6. Giải trí

        Tự do làm những gì mình thích như: đi du lịch, đi khám phá thế giới, đọc sách, ăn uống, chơi thể thao,… một cách thường xuyên. Đừng sống một cuộc sống nhạt nhẻo. Khi được làm những gì mình thích, thì đó đã là một niềm hạnh phúc phải không nào?

        Người có càng nhiều sở thích luôn có một cuộc sống càng thú vị hơn. Đến khi nó trở thành đam mê, nó sẽ khiến bạn sống vì nó, hành động vì nó một cách mạnh mẽ và nhiệt huyết nhất. Sống cho đáng sống!

        7. Chia sẻ

        Tạo ra các giá trị có ích cho cộng đồng như: làm từ thiện, thành lập quỹ học bổng, đào tạo nhân tài quốc gia, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có ích cho xã hội hay đơn giản là giúp đỡ mọi người.

        Sống là để cho đi, để thể hiện được lòng yêu thương đối với mọi người, để trong cuộc sống mình cảm thấy thanh thản. Khi đem niềm vui đến cho mọi người, tự thân mình cũng cảm thấy ấm áp hơn. Đó là nhu cầu tự thân và tự nhiên của mỗi chúng ta chứ chẳng cần động cơ, mục đích gì cả.

        Chia sẻ cả về vật chất lẫn tinh thần

        Chia sẻ kiến thức để mọi người trở lên thông thái hơn!

        8.  Tâm linh

        Đời sống tinh thần hay đời sống vật chất quan trọng hơn ?

        Suy cho cùng, mọi vật chất cũng chỉ để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mỗi người.

        Đời sống tinh thần bao gồm: tư duy, tri giác, trí nhớ, ý muốn, trí tưởng tượng và cảm xúc,…

        Một triết gia nói rằng: “ Từ khi bạn được sinh ra trên cõi đời này, bạn đã bắt đầu con đường đến cái chết. Và càng lớn lên, tức là bạn đang càng tiến gần đến cái chết”. Tôi rất tâm đắc với câu nói này và tôi cho rằng, không có lí do gì để chúng ta phải phí hoài thời gian sống bằng sự bi quan, buồn rầu, chán nản hay thù ghét. Tôi quý trọng từng giây phút mà mình còn sống, và luôn cố gắng tận hưởng nó tối đa.

        Sống là để yêu thương, đời người có bao lâu mà phải ghét nhau. Sống vị tha, không giận, không hờn, không oán trách.

        Cách tìm bánh xe cuộc đời mình


        Bạn xác định những khu vực bạn cần quan tâm nhiều hơn.Hãy cùng trải nghiệm bài tập ” Bánh xe cuộc đời” để khám phá cuộc đời của bạn thế nào qua các bước sau nhé:

        Bước 1:

        Vẽ vòng tròn Bánh Xe Cuộc Đời, và chia vòng tròn ra làm 6-8 phần, mỗi phần bạn chọn một lĩnh vực mà bạn cho là quan trọng nhất trọng trong cuộc sống của bạn, bạn có thể lấy 8 lĩnh vực ở phía trên hoặc 8 lĩnh vực khác tùy bạn ( như gia đình, con cái, tình yêu…) và bạn tự cho điểm nó (hãy thành thật với chính mình thì bạn mới có một cái nhìn đúng đắn về cuộc đời của mình được).

        Bước 2:

        Bạn hãy đánh giá mức độ hài lòng của bạn ở mỗi mặt theo thang điểm từ 1-10 (1 là không thỏa mãn và 10 là hoàn toàn thỏa mãn). Tìm những lĩnh vực nào đang ở mức dưới 7, tự hỏi mình những câu hỏi sau:

        Để đạt mức 8 điểm trở lên trong lĩnh vực này, mình cần phải làm gì?

        Những kết quả mình mong muốn đạt được trong lĩnh vực này?

        Mình sẽ bỏ bao nhiêu thời gian trong tuần cho lĩnh vực này?

        Bước 3:

        Liệt kê 1-3 kết quả bạn muốn đạt được trong các lĩnh vực khác để đảm bảo rằng bạn không lơ là chúng.

        Bước 4:

        Cam kết sẽ thực hiện đúng như những gì mình đã đề ra để giành lại quyền kiểm soát vô lăng bánh xe cuộc đời của mình.

        Bước 5:

        Mỗi tuần dành thời gian vẽ lại Bánh Xe Cuộc Đời để đánh giá các lĩnh vực của bạnSau khi đánh giá xong, bạn nối các điểm lại với nhau để tạo hình cho bánh xe cuộc đời của mình như hình  mẫu bên dưới.

        Lợi ích của Bánh xe cuộc đời là gì?

        Bánh Xe Cuộc Đời giúp cho chúng ta một cái nhìn rất rõ về những gì chúng ta đang làm tốt và những gì chúng ta đang làm chưa tốt (một cách tương đối).

        Nếu như chúng ta không có một hệ thống nào để đánh giá những gì mình đã làm được hay chưa được, chúng ta sẽ không biết tiếp theo mình nên làm gì và đến đâu. Chúng ta sẽ mất đi động lực để tiếp tục nỗ lực cải thiện những lĩnh vực quan trọng khác trong cuộc sống.

        Bánh Xe Cuộc Đời giúp chúng ta luôn tập trung vào những gì quan trọng nhất. Một trong những cách đơn giản nhất và hữu ích nhất để bắt đầu hướng cuộc đời mình theo một hướng đi tích cực hơn đó là ngừng làm những chuyện không quan trọng với chúng ta.

        Áp dụng bánh xe cuộc đời vào cuộc sống như thế nào?

        Nếu như bạn tập trung nâng cao lĩnh vực sức khỏe, nhiều khả năng bạn sẽ cảm thấy năng lượng dồi dào và thái độ của bạn trở nên tích cực hơn với cuộc đời. Điều này có thể là hệ quả dẫn đến mối quan hệ của bạn với những người khác cũng tăng lên, hoặc sự nghiệp của bạn cũng phát triển hơn do bạn có năng lượng làm việc gấp đôi người khác.

        Nếu như bạn tập trung nâng cao lĩnh vực phát triển bản thân thì có thể kéo theo tất cả các lĩnh vực khác cùng tăng lên một tầm cao mới. Mấu chốt ở đây đó là tìm ra những cách để giúp bạn cân bằng các lĩnh vực này trong một tuần bằng các hoạt động khác nhau.

        Nếu chỉ tập trung vào một lĩnh vực mà bỏ quên các lĩnh vực khác trong suốt một tuần thì sẽ rất nguy hiểm vì chúng ta có nguy cơ rơi vào hình dạng bánh xe xiên vẹo và méo mó.

        Thiết lập bánh xe cuộc đời là một quá trình tuy đơn giản nhưng không hề dễ. Nó yêu cầu bạn phải có một mức độ nhận thức, thấu hiểu bản thân nhất định cùng với sự dũng cảm để quan sát chân thật về cuộc sống của mình.

        Nguồn: tổng hợp vothanhnha.com, danghuudai.com ...

        Thập nhị nhân duyên là gì? Giải nghĩa chi tiết


          Thập nhị nhân duyên là gì?

          Thập nhị nhân duyên là một giáo lý rất đặc thù, là cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo, được đề cập nhất quán trong tất cả các kinh điển.

          Thập nhị nhân duyên là phép tu hành chủ yếu quán sát tất cả các sự vật, cho đến luân hồi, đều do nhân duyên mà phát khởi, nhân duyên hội họp thì gọi là sanh, nhân duyên tan rã thì gọi là diệt, sự thật vốn không có cái gì sinh, cái gì diệt cả.

          Cùng với Tứ Diệu Đế, thập nhị nhân duyên là giáo lý rất quan trọng trong hệ thống kinh điển Nguyên thủy. Đây là mười hai yếu tố liên hệ hỗ tương với nhau theo lý duyên sinh và nhân quả, diễn biến trong cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai.

          Trước khi Phật ra đời, cũng đã có nhiều vị tu hành giác ngộ được đạo lý nhân duyên, ra khỏi luân hồi, đó là các vị Độc giác.

          Các vị Độc giác thường quán tất cả các sự vật, dù thân hay cảnh, dù sống hay chết, đều do các duyên hội hợp mà hóa thành như có, chứ không phải thật có. Các vị thường quán các sự vật, chỉ có tánh đối đãi, chứ không có tự tánh. 

          Ví dụ như tờ giấy, nó có những tính cách là mỏng, là vuông, là trắng, những tính cách đó đều là đối đãi, vì mỏng đối với dày mà có, vuông đối với cái không phải vuông mà có, trắng đối với cái không phải trắng mà có, lại tờ giấy là vật có hình tướng, cũng có đối với không mà thành, rõ ràng tờ giấy chỉ có những tính cách đối đãi, ngoài những tính cách ấy ra, thì không chỉ thế nào là tờ giấy được.

          Quán sát như thế, thì nhận rõ được các tướng của sự vật đều giả dối, không thật, theo duyên mà phát hiện, theo duyên mà thay đổi, không có gì là chắc thật cả.

          Các vị Độc giác quán sát như thế, thì ngộ được các pháp đều vô ngã, cảnh cũng vô ngã, thân cũng vô ngã, cho đến những sự sống, chết đều vô ngã. Đồng thời, các vị Độc giác cúng ngộ được các pháp vô ngã như thế, theo duyên mà chuyển biến, mà thường dùng định lực quán cái có ra không, cái không ra có, làm cho càng rõ thêm sự thật của mọi sự vật, chứng được bản tánh vô ngã và ra khỏi luân hồi.

          Đối với những đệ tử Phật, có căn cơ quán sát nhân duyên, thì Phật dạy 12 nhân duyên phát khởi ra luân hồi, để các đệ tử ấy tu tập theo và chứng quả Duyên giác.

          Giải nghĩa chi tiết 12 nhân duyên



          1. Vô minh: 

          Vô minh là không sáng suốt, là mề lầm, không nhận được bản tính duyên khởi chân thật. Do vô minh, nên không biết tất cả sự vật, dầu thân, dầu cảnh, dầu sinh, dầu diệt, dầu năng, dầu sở, dầu có, dầu không, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, do nhân duyên tan rã mà giả dối mất đi, đều theo nhân duyên mà chuyển biến như huyễn, như hóa, không có thật thể. Chính vì không biết như thế, nên lầm nhận thật có cái ta, thật có cái thân, thật có hoàn cảnh, rồi do sự đối đãi giữa thân tâm và cảnh giới, phát khởi ra những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng.

          2. Hành: 

          Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng ấy, nó làm cho chúng sanh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp, rồi về sau chịu quả báo.

          3. Thức:

          Tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra cái thức tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác.

          4. Danh sắc:

          Các thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc. Sắc, bao gồm những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh, bao gồm những cái không có hình tướng, như cái sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy.

          5. Lục nhập:

          Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần.

          6. Xúc:

          Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc.

          7. Thọ:

          Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ.

          8. Ái:

          Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, hơn bao giờ hết.

          9. Thủ:

          Do tâm gắn bó với thân, với cảnh nên không thấy được sự thật như huyễn, như hóa, mà còn kết hợp được những ảnh tượng rời rạc đã nhận được nơi hiện tại, thành những sự tướng có định, rồi từ đó chấp mọi sự vật đều có thật, sự chấp trước như thế, gọi là thủ.

          10. Hữu:

          Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết, cái có như thế, tức là hữu.

          11. Sinh:

          Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo lý duyên khởi như huyễn, không có tự tánh, nên nhận lầm thật có sinh sống.

          12. Lão tử:

          Lão tử là già rồi chết. Do có sinh sống, nên có già, rồi có chết.

          Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục, chuyền từ khâu này đến khâu khác trong nhiều đời. Do có vô minh qua hành ở các đời quá khứ nên duyên khởi ra thức tâm của đời này. Thức tâm ấy, theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc, danh sắc duyên sinh ra lục thập, lục thập duyên sinh ra xúc, xúc duyên sinh ra thọ. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, đều là cái quả báo dị thục của các nghiệp, đã gây ra từ trước.

          Kinh A Hàm, Phật dạy: “Cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt”. Đây là một định lý về duyên sinh duyên khởi . Tất cả các pháp từ vô tình đến hữu tình đều vay mượn nhau, hỗ trợ nhau, nương tựa nhau mà sinh khởi và tồn tại. Ví như một bó lau, cùng nương vào nhau để đứng vững; nếu một cọng lau ngã xuống, những cọng khác khó thể trụ lại.

          Mười hai nhân duyên cũng thuộc giáo lý Duyên sinh, nhưng hạn cuộc cho loài hữu tình. Nếu nhìn theo chiều dọc từ trên xuống dưới, thì chi phần trên làm duyên cho chi phần dưới phát sinh. Vô minh là Hoặc nhân của quá khứ, làm duyên phát sinh Hành nghiệp. Vì là nhân quá khứ, nên hiện tại người tu không thể sữa đổi gì được đối với Vô minh, mà chủ yếu chỉ chuyển hóa nhân hiện tại là Ái Thủ Hữu. Nhân hiện tại bị diệt trừ thì không có quả vị lai. Sanh lão tử ngay nay đoạn dứt.

          Tuỳ theo cách hiểu về mười hai nhân duyên và tuỳ theo sở thích, hành giả có thể áp dụng nhiều phương pháp về công phu. Nhưng tựu trung có hai mắt xích quan trọng. Nếu phá được một trong hai, có thể phá vỡ được sự liên hệ chằng chịt giữa các chi phần: đó là vô minh và ái dục, hai chi phần này là những lực tác động hết sức mãnh liệt làm chuyển động bánh xe luân hồi, đều có cùng bản chất vô minh.

          Chu kỳ liên kết mười hai hiện tượng thường được cụ thể hóa bằng một bánh xe vẽ trên một tấm tranh gọi là Thăng-ka (thanka). Bánh xe đó mang tên là Bánh xe của sự hiện hữu hay Bánh xe luân hồi.

          Bánh xe Nhân quả liên quan (bhava cakka)


          Pháp Nhân quả liên quan chia ra làm 3 thời kỳ (addhā), 12 chi (aṅga), 20 thể (ākāra), 3 chỗ nối liền (sandhi), 4 chỗ tóm tắt (sankhepa), 3 sự xoay chuyển (vaṭṭa), 2 gốc (mūla).

          Giải: chỗ nói ba thời kỳ là: thời kỳ quá khứ, vị lai, hiện tại; vô minh và hành – hai chi này thuộc về thời kỳ quá khứ; thức, danh sắc, lục căn, xúc, thọ, ái, thủ, hữu – tám chi này thuộc về thời kỳ hiện tại; sanh và già chết – hai chi này thuộc về thời vị lai. Chỗ nói mười hai chi là từ vô minh tới già chết.

          Nguồn: tổng hợp

          Bát Chánh Đạo là gì? 8 con đường hướng đến sự giác ngộ

            Bát chánh đạo là gì?

            Bát Chánh Đạo là tám con đường ngay thẳng hay tám phương tiện nhiệm màu đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu. Hoặc là con đường chánh tám ngành hướng đến sự giác ngộ giải thoát. 

            Bát chánh đạo còn được gọi với tên khác là Bát Thánh đạo, Bát chi chánh đạo, Bát Thánh đạo phần, Bát đạo hành, Bát trực hành, Bát chánh, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp, hay Bát lộ.

            Bát Chánh Đạo thuộc Đạo Đế trong Tứ Diệu Đế mà đức phật truyền dạy trong giáo lý đạo phật.

            Bát chánh đạo được xem xét, được suy ngẫm, phải được thực hiện khi và chỉ khi, mỗi bước được chấp nhận hoàn toàn như là một phần của cuộc sống mà bạn tìm kiếm. Phật giáo không bao giờ đòi hỏi đức tin mù quáng, Phật giáo chỉ tìm cách thúc đẩy học hỏi và quá trình tự khám phá bản thân.

            Bát chánh đạo gồm có:

            - Chánh kiến (skrt: samyag-dṛṣṭi, pāli:sammàditthi): thấy đúng. 

            - Chánh tư duy (skrt: Samyak-saṁkalpa, pāli: sammàsankappa): suy nghĩ đúng. 

            - Chánh ngữ (skrt: Samyag-vāc, pāli: sammàvàca): nói đúng. 

            - Chánh nghiệp (skrt: Samyak-karmānta, pāli: samm kammata): làm việc đúng. 

            - Chánh mạng (skrt: Smnyag-ājīva, pāli: sammààjiva): sống đúng. 

            - Chánh tinh tấn (skrt: Samyag-vyāyāma, pāli: sammààyàma): siêng năng đúng. 

            - Chánh niệm (skrt: Samyak-smṛti, pāli: sammà satti): nhớ đúng. 

            - Chánh định (Samyak-samadhi, pāli: sammà samàdhi): tập trung đúng.

             


            Bát Chánh Đạo có thể chia thành ba nhóm theo đặc tính thực nghiệm của mỗi chi nhánh:

                           A. Tuệ (Prajna, Av. Wisdom) gồm có:

                                      1. Chánh kiến.

                                      2. Chánh tư duy.

            Nhóm này nhằm trau dồi, vun trồng trí tuệ để đi đến con đường đạt giác ngộ (awakening).

            Chánh kiến nhờ trợ lực của Chánh tư duy mà quan sát đối tượng để nhận định đâu là đúng, đâu là sai.

                           B. Giới/ luân lý (Sila, Av. Morality) gồm có:

                                        3. Chánh ngữ.

                                        4. Chánh nghiệp.

                                        5. Chánh mạng.

            Nhóm này nhằm trau dồi, vun trồng những hành vi đạo đức tốt như lòng thương người (compassionate heart), tâm từ bi (compassionate mind) qua những gì mình nói, qua những gì mình làm, và qua nghề nghiệp mình chọn lựa để sinh sống.

                           C. Định (Samadhi, Av. Concentration) gồm có:

                                         6. Chánh tinh tấn.

                                         7. Chánh niệm.

                                         8. Chánh định.

            Nhóm này giúp tập trung vào những đối tượng tốt, thanh tịnh để đạt đến niết-bàn, đến giải thoát.

            Con đường tu tập Bát chánh đạo cũng chính là con đường tu tập của Giới - Định - Tuệ

            Bát Chánh Đạo - 8 con đường hướng đến sự giác ngộ bao gồm:

            1. Chánh kiến

            Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. 


            Chánh kiến là thấy, nghe, nhận thức đứng đắn, ngay thẳng; hiểu sự vô thường trong cuộc đời, những điều kiện không bằng lòng, và những yếu tố tùy thuộc lẫn nhau của cuộc đời đã gây ra những điều không được bằng lòng, những điều bất mãn.

            Người có chánh kiến biết phân biệt cái nào giả, cái nào thật. Và khi đã biết cảnh giả, vật dối, thì mắt không chăm, tâm không chú; còn khi rõ biết cảnh vật thật, lời lẽ chân, thì chuyên tâm vào sự lý chân thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không phương che ám được.

            Cũng như bạn có thể đọc các hướng dẫn trên bản đồ, nghiên cứu để chuẩn bị cho cuộc hành trình…đọc và kiểm tra các thông tin rất quan trọng, nhưng chỉ dừng lại ở khâu chuẩn bị. Ở mức độ sâu hơn, kinh nghiệm trực tiếp mới dẫn chúng ta đến sự hiểu biết đúng.

            Hiểu biết thực tế là rất ít giá trị, nếu chúng ta không đặt nó vào trải nghiệm cá nhân trong cuộc sống của chúng ta. Do đó, chánh kiến ở đây không phải là hiểu lý thuyết mà là hiểu và nhận ra sự thật thông qua trải nghiệm cá nhân.

            * Hiểu biết chân chánh:

            -Hiểu biết tất cả sự vật hiện hữu trên thế gian này đều do nhân duyên sanh, không trường tồn và luôn luôn biến diệt.

            - Nhận thức rõ nhân quả- nghiệp báo để hành động.

            - Nhận thức rõ giá trị hiện hữu của thân người và mọi vật xung quanh.

            - Nhận thức rõ Khổ- Vô thường- Vô ngã của vạn pháp.

            - Nhận thức rõ tất cả chúng sanh cùng một bản thể thanh tịnh.

            - Nhận thức rõ Tứ đế- Thập nhị nhân duyên, không chấp thường , chấp đọan.

            * Hiểu biết không chân chánh:

             - Chấp Thượng đế tạo vật, không tin lý nhân quả nghiệp báo.

            - Phủ nhận mọi sự vật hiện hữu, không nhận thức chúng từ nhân duyên sanh.

            - Chấp vào thành kiến; quan niệm không bình đẳng giữa người và muôn vật.

            - Cố chấp vào kiến thức vọng tưởng; không tin vào những quả vị giải thoát.

            2. Chánh tư duy


            Chánh tư duy là suy nghĩ đúng đắn với lẽ phải, loại bỏ những ý tưởng tham lam, hảm hại, tàn bạo và ác độc đới với người khác; luôn luôn phát triển và trau dồi lòng vị tha, thương người, và có ý đối xử tốt với mọi người, luôn luôn phát khởi ý tốt đối với mọi chúng sanh, luôn nghĩ tới những người đang khổ sở để mang đến đều tốt lành cho họ, để giải thoát khổ đau cho họ.

            Người tu theo phép Chánh tư duy, thường xét nghĩ đạo lý cao siêu, suy tìm thể tánh nhiệm mầu, biết xét những hành vi lỗi lầm, những ý nghĩ xấu xa để sám hối; biết suy nghĩ về ba món vô lậu học: Giới, Ðịnh, Huệ, để tu giải thoát; biết suy xét vô minh và nguyên nhân đau khổ, là nguồn gốc của tội ác, và tìm phương pháp đúng đắn để tu hành hầu giải thoát cho mình và cho người.

            * Suy nghĩ chân chánh:

            -Suy nghĩ đến nguyên nhân đau khổ của mình và chúng sanh, ở đó vô minh là nguồn gốc của mọi tội lỗi, để biết mà tu tập hầu tìm được giải thóat cho mình và cho người.

            - Suy nghĩ đến Giới- Định –Huệ làm căn bản tiến tu đến quả vị Niết bàn.

            * Suy nghĩ không chân chánh:

            - Suy nghĩ đến lợi dưỡng, tài sắc, danh vọng tìm trăm mưu nghìn kế để hại người.

            - Suy nghĩ đến nhiều cách để hơn người, mọi mưu mô để trả thù; dùng tà thuật; dựa vào lòng tin của con người để mê hoặc.

            3. Chánh ngữ


            Chánh ngữ là lời nói phải chân thật, đúng với lẽ phải, bởi vì lời nói có một sức mạnh có thể gây nên điều tốt cũng có thể gây nên sự hảm hại cho người nghe. Con người thường nói những điều mình nghĩ nên Chánh ngữ phải theo sau Chánh tư duy; như vậy phải suy nghĩ cẩn thận trước khi nói ra: "Lời nói chẳng mất tiền mua /Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau."

            Chẳng luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý thì cứ tin theo mà tu.

            Vậy, phàm những lời nói đúng lý, hợp lẽ, có lợi ích cho toàn thể chúng sinh là chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế.

            * Lời nói chân thật:

            -Lời nói ngay thẳng, thành thật, hợp lý không thiên vị, hòa nhã, giản dị và sáng suốt.

            -Lời nói lợi ích, đồng nhất và mang tính chất sách tấn, khuyến tu, mở bày ánh sáng giác ngộ tự tâm trong mỗi tha nhân.

            -Lời nói mang tính chất tuyên dương đạo lý làm người; tuyên dương chánh pháp Từ bi và Trí tuệ.

            * Lời nói không chân thật:

            - Lời nói gây chia rẽ, không đúng sự thật.

            -Lời nói để hại người, xuyên tạc, thiên vị, dua nịnh.

            - Lời nói nguyền rủa , mắng nhiếc, vu họa và thô tục.

            - Lời nói để bảo vệ Ngã và Ngã sở.

            4. Chánh nghiệp


            Chánh nghiệp là hành động nào cũng phải phù hợp với lẽ phải, đừng hãm hại bất cứ loài vật nào, bất cứ một người nào, ngay cả đừng có một ý định làm hảm hại người nào.

            Chánh tư duy cũng diễn tả, cũng suy nghĩ về chánh nghiệp. Nói khác người có chánh nghiệp là luôn luôn có hành vi đạo đức tốt, tránh gây tổn thương quyền lợi và danh dự của kẻ khác.

            Người theo đúng “chánh nghiệp” là người luôn luôn thận trọng , giữ gìn mọi hành động của mình, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề ghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác. Hơn nưa người theo đúng chánh nghiệp bao giờ cũng tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi ích cho mọi người, mọi vật; và nếu cần, có thể hy sinh quyền lời hay tánh mạng mình để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác.

            * Hành động chân chánh:

            - Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống chung của mọi người, mọi loài.

            - Hành động có thận trọng không tổn hại đến nghề nghiệp, tài sản, danh giá và địa vị của kẻ khác.

            - Hành động chân chánh là hành động có lương tâm, đạo đức trong địa vị của mình, biết gìn giữ tánh hạnh.

            - Biết hy sinh chánh đáng để đem lại lợi lạc cho quần sanh.

            * Hành động không chân chánh:

            -Hành động không gìn giữ các phép tắc, giới điều.

            - Hành động chỉ vì lợi mình mà hại người.

            5. Chánh mạng


            Chánh mạng là làm một nghề để sinh sống phải tránh làm hảm hại kẻ khác. Phật giáo thường khuyến khích con người loại bớt các tài sản vì nó ràng buộc mình. Thực ra thì cũng không có điều nào cấm cản việc tích trử tiền bạc và sắm các nữ trang quý giá. Tất cả tùy thuộc vào sự liên hệ của tài sản này do đâu mà có. Theo truyền thống thông thường thì sự giàu sang có thể là dấu hiệu của một nghiệp tốt lành (good karma). Tài sản dồi dào cũng có thể giúp hành giả một cơ hội giúp đỡ người khác qua lòng từ bi của hành giả.

            Người theo Chánh mạng sống đúng Chánh pháp, không mê tín dị đoan, và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với chánh pháp.

            Đời sống chân chánh:

            -Sống bằng khả năng, tài năng chân chánh, không lừa dối gạt người.

            - Sống thanh cao, đúng chánh pháp không mê tín.

            Đời sống không chân chánh:

            - Làm tổn hại và não lọan tâm trí mọi người.

            - Sống luồn cúi, dùng miệng lưỡi, mối lái để giao dịch thân thiện.

            - Sống chạy theo mê tín, dị đoan; sống nương tựa ăn bám vào kẻ khác.

            6. Chánh tinh tấn


            Chánh tinh tấn là kỷ luật tinh thần nhằm chú tâm cố gắng, siêng năng, kiên nhẫn để sử dụng sự cố gắng thích hợp giữa hai cực đoan: một bên là lười biếng, một bên là làm quá sức. Chánh tinh tấn là loại bỏ những thái độ, những tư tưởng không đúng đắn. Chúng ta đã biết rằng Đức Phật đã cố gắng chống lại những trở lực để đi đến chỗ giác ngộ: Ngài đã bị thiếu nữ Mara cám dỗ, nhưng Ngài đã không bị lay chuyển để rồi đi đến chỗ đắc đạo.

            Người theo đúng Chánh tinh tấn, trước tiên, bao giờ cũng hăng hái sửa mình, cương quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát triển mọi hạnh lành (xem bài Tứ Chánh cần). Người theo đúng Chánh tinh tấn, dũng mãnh tiến lên trên đường đi đến giải thoát, cho đến lúc nào đạt được mục đích cao cả, cùng tột ấy mới thôi (xem đoạn “Tấn căn” trong bài Ngũ căn). Quyết tạo nghiệp vô lậu xuất thế gian, lấy chánh trí làm mãnh lực, lấy Niết Bàn làm chỗ quy hướng, một lòng chẳng trễ, muôn kiếp không dời, quyết công phu, định thành đạo quả để trước tự độ, sau hóa độ chúng sanh.

            Chuyên cần chân chánh:

            - Quyết tâm lọai bỏ các việc ác đã sanh, ngăn ngừa những việc ác chưa sanh.

            - Chuyên làm các việc lành việc tốt.

            - Chuyên cần trau dồi phước đức và trí tuệ.

            Chuyên cần không chân chánh:

            - Là người say sưa với ngũ dục và khóai lạc.

            - Là kẻ say sưa lạc thú làm tổn hại đến người khác, không tiết chế bản thân.

            7. Chánh niệm


            Chánh niệm có nghĩa là phải làm cho đời sống của chúng ta gắn liền với những gì mà ta đang làm trong hiện tại. Ví dụ: khi ăn thì ta chú tâm ăn, khi đọc sách thì ta chú tâm đọc, khi đọc Kinh Phật thì ta chú tâm và kinh Phật, Khi đang lái xe thì chú tâm vào việc lái xe, khi rửa chén thì chú tâm vào việc rửa chén.

            Chánh niệm khiến chúng ta gợi lại những điều trong quá khứ, nhất là để tâm vào những điều ta luyến tiếc. Chánh niệm khiến chúng ta nghĩ đến tương lai, nhất là những điều chúng ta đang lo lắng. Rồi Chánh niệm giúp ta trở lại giây phút hiện tại để chú ý vào những điều ta đang muốn và đang xảy ra trong hiện tại và tìm ra một giải pháp thích hợp.

            Chánh niệm có hai phần:

            a) Chánh ức niệm: là nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối, và nghĩ nhớ đến Tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam Bảo để lo báo đền.

            b) Chánh quán niệm: là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là khổ não, tật bệnh, mê mờ mà chúng sinh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và quyết ra tay cứu độ.

            Người theo đúng Chánh niệm, thường quán sát cảnh chân đế, năng tưởng niệm các pháp trợ đạo; bất luận ở đâu và làm gì, cũng nhớ nghĩ đến cái quả vô lậu xuất thế gian, dù trải qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm xao lãng.

            Ức niệm chân chánh:

            - Nhớ đến tứ ân.

            - Nhớ đến những lỗi lầm xưa, đừng để tái phạm trong hiện tại và tương lai.

            Ức niệm không chân chánh:

            - Nhớ lại những óan hận để phục thù.

            - Nhớ lại những hạnh phúc mong manh không ích lợi.

            - Nhớ lại hành động oai hùng, dùng thủ đọan xảo trá, tàn bạo đã qua để hãnh diện tự đắc.

            Quán niệm chân chánh:

            - Quán niệm Từ bi: Thấy nỗi khổ của chúng sanh trong luân hồi sanh lòng thương xót, tìm nhiều phương tiện để giúp đở họ. Thấy sự mê lầm của mình và người dẫn đến sầu, bi , khổ, ưu và não, thực hành lời Phật dạy để chấm dứt mê lầm.

            - Quán niệm Trí huệ: Quán niệm nguyên nhân sanh hóa vũ trụ, óan thân, tốt xấu, cao thấp; quán niệm thực tướng của các pháp để vững tiến trên con đường giải thoát.

            Quán niệm không chân chánh:

            - Nhớ nghĩ đến dục lạc, khóai cảm.

            - Nhớ nghĩ đến kế sách, âm mưu và phương tiện giết hại lẫn nhau.

            - Nhớ nghĩ đến văn tự xảo trá để gạt người.

            8. Chánh định


            Chánh định là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì tốt lành như lòng từ bi, như  sự vô thường của cuộc đời. Tâm thần của chúng ta được coi như là một tấm gương dính bụi, Chánh định coi như lau chùi tấm gương để tấm gương được sáng tỏ. Nói khác, Chánh định giúp cho tâm thần được sáng sủa để nhìn sự vật như là nó hiện hữu trong thực tại.

            Chánh định giúp chúng ta nhìn thấu triệt tính vô thường, tính duyên khởi của mọi sự vật, mọi hoàn cảnh ở đời để giúp chúng ta làm giảm những lo lắng, sợ sệt, nghi ngờ, tham luyến, giận dữ và ảo tưởng về một việc hay một vấn đề nào đó; và nhờ đó cuộc sống của chúng ta sẽ bình an hơn, sẽ khéo léo hơn, và sẽ từ bi hơn để đem lợi ích cho chính chúng ta và cho người khác.

            Người theo đúng Chánh định, thường tập trung tư tưởng để quan sát những vấn đề chính sau đây:

            Quán thân bất tịnh: (bất tịnh quán) tức là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái (xem lại đoạn: “quán thân bất tịnh” trong bài Tứ niệm xứ).

            Quán từ bi: (từ bi quán) là quán tưởng tất cả chúng sinh đều là một chân tâm, bình đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận, và mở rộng lòng thương yêu để cứu độ chúng sinh.

            Quán nhân duyên: (nhân duyên quán) là quán tưởng tất cả pháp hữu hình như muôn vật, vô hình như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp.

            Quán giới phân biệt: (giới phân biệt quán) nghĩa là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới: 6 căn, 6 trần, 6 thức để thấy không thật có “ngã, pháp” ngõ hầu diệh trừ ngã chấp, pháp chấp.

            Quán hơi thở: (sổ tức quán) nghĩa là qúan tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, để đối trị sự tán loạn của tâm thức.

            Thiền định chân chánh:

            - Bất tịnh quán: quán các pháp không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái v.v…….

            -Từ Bi Quán : Quán sát tất cả chúng sanh đồng thể tánh thanh tịnh, không hơn không kém để tôn trọng, kính quý và đọan trừ tâm hận thù

            - Nhân duyên quán: Quán tất cả pháp đều do nhân duyên mà thành, không có một pháp nào riêng biệt trong thế giới tương tức tương nhập ( Kinh hoa nghiêm), không chân thật, không trường tồn, để đọan trừ ngu si thiên chấp.

            - Giới phân biệt quán: Nghĩa là phân biệt và quán sát sự giả hợp của 18 giới ( 6 căn, 6 trần, 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp và diệt trừ ngu si cố chấp.

            - Sổ tức quán: Nghĩa là quán hơi thở, để đối trị tâm tán lọan để đi sâu vào thiền định.

            Thiền định không chân chánh:

            -Thiền định để cầu thác sinh các cõi trời.

            -Thiền định để luyện bùa chú, thần thông, phép lạ, trường sanh bất tử.

            Trên thực tế, toàn bộ giáo huấn của Đức Phật, những gì mà Ngài giảng dạy trong suốt 45 năm dù làm theo cách này hay cách khác với con đường này. Ngài đã giải thích nó theo những cách khác nhau và bằng những từ khác nhau cho những người khác nhau, theo giai đoạn phát triển của họ. Nhưng bản chất của hàng ngàn lời thuyết giảng ở khắp nơi trong kinh điển Phật giáo đều được tìm thấy trong Bát chánh đạo.

            Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý của chúng ta, khi thực hành Bát chánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt.

            Bát chánh đạo lại là nền tảng chánh giác, là căn bản của Giải thoát - Giác ngộ.

            Nguồn: tổng hợp buda.vn ,thuvienhoasen.org vv...

            Ads

             
            Copyright © 2014 Blog tin tức đa dạng Hvdong. Designed by OddThemes